Đưa phụ nữ ra nước ngoài trái phép để kết hôn bị xử lý thế nào?

[Được tham vấn bởi: Luật sư Bùi Thị Nhung]
Bài viết đề cập đến nội dung liên quan đến Truy cứu TNHS về Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép? Truy cứu TNHS về Tội mua bán người? Nhận diện thủ đoạn của tội phạm mua bán người? được Công Ty Luật Tuyết Nhung Bùi giải đáp sử dụng vào mục đích tham khảo.

1. Truy cứu TNHS về Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép

Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép được quy định tại Điều 349 Bộ luật Hình sự. Cụ thể:

Điều 349. Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép
1. Người nào tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 120 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Đối với từ 05 người đến 10 người;
d) Có tính chất chuyên nghiệp;
đ) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Đối với 11 người trở lên;
b) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;
c) Làm chết người.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Trường hợp người môi giới trực tiếp hoặc tổ chức đưa phụ nữ ra nước ngoài trái phép nhằm mục đích môi giới kết hôn với người nước ngoài, thì trước hết hành vi tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại Điều 349 Bộ luật Hình sự về Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép.

Tuy nhiên, tùy vào mục đích, thủ đoạn và bản chất hành vi, người thực hiện còn có thể bị xem xét về các tội danh khác.

Luật Tuyết Nhung Bùi – Hotline: 0975 982 169

2. Truy cứu TNHS về Tội mua bán người

Đối với hành vi đưa phụ nữ ra nước ngoài môi giới hôn nhân, thì việc coi con người như một món hàng, đưa ra nước ngoài giới thiệu với một người khác để nhận tiền là hành vi trái pháp luật và phải coi là hành vi mua bán người.

Tội mua bán người là hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền con người, đặc biệt là quyền tự do, danh dự, nhân phẩm. Hành vi này thường gắn liền với các thủ đoạn như lừa dối, cưỡng ép, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của nạn nhân để trục lợi.

Tội mua bán người được quy định tại Điều 150 Bộ luật Hình sự. Cụ thể:

Điều 150. Tội mua bán người
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Vì động cơ đê hèn;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
d) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
đ) Đối với từ 02 người đến 05 người;
e) Phạm tội 02 lần trở lên.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;
đ) Đối với 06 người trở lên;
e) Tái phạm nguy hiểm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Bên cạnh đó, căn cứ khoản 1 Điều 2 Nghị quyết Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP, hành vi môi giới kết hôn có thể bị coi là mua bán người nếu có các dấu hiệu sau:

– Người môi giới dụ dỗ, lừa gạt hoặc ép buộc phụ nữ tham gia;

– Lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, thiếu hiểu biết của nạn nhân để lôi kéo;

– Sau khi ra nước ngoài, nạn nhân bị ép kết hôn với người không mong muốn;

– Có hành vi chuyển giao, tiếp nhận người để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất;

– Biết rõ việc kết hôn chỉ là vỏ bọc để bóc lột lao động, bóc lột tình dục hoặc bán tiếp cho người khác nhưng vẫn thực hiện.

Ngoài ra, các hành vi như tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người nhằm thực hiện việc chuyển giao người cũng được xác định là hành vi mua bán người.

Lưu ý: – Trường hợp người phụ nữ tự nguyện ra nước ngoài theo người môi giới (không bị dụ dỗ, ép buộc) để cho người nước ngoài xem mặt và đã tìm được một người chồng như mong muốn, có cuộc sống gia đình yên ổn ở nước ngoài hoặc trường hợp người môi giới tự nguyện đi ra nước ngoài để xem mặt nhưng không ưng ý và quay trở về Việt Nam thì không đặt vấn đề xem xét trách nhiệm hình sự của người môi giới về hành vi mua bán người trong trường hợp này.

– Trường hợp người phụ nữ hoàn toàn tự nguyện theo người môi giới ra nước ngoài nhưng đã bị bắt giữ tại biên giới. Đối với trường hợp này, nếu không chứng minh được việc người môi giới đã có hành vi dụ dỗ, ép buộc, lừa gạt hoặc người môi giới có ý định giao người phụ nữ cho người khác trái với ý muốn của họ để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác thì cũng không xem xét trách nhiệm hình sự của người môi giới về hành vi mua bán người, mà có thể chỉ bị xem xét về hành vi xuất cảnh trái phép.

3. Nhận diện thủ đoạn của tội phạm mua bán người

Trong thực tế, tội phạm mua bán người ngày càng tinh vi, thường núp bóng dưới các hình thức hợp pháp như môi giới hôn nhân, xuất khẩu lao động hoặc nhận con nuôi. Một số thủ đoạn phổ biến gồm:

Dụ dỗ, lừa gạt, ép buộc nạn nhân:
Người môi giới dùng lời hứa về cuộc sống tốt đẹp ở nước ngoài để dụ dỗ phụ nữ tham gia. Sau đó, họ có thể cầm giữ, đe dọa hoặc gây sức ép buộc nạn nhân phải chấp nhận kết hôn với người nước ngoài mà mình không mong muốn. Trong trường hợp này, hành vi của người môi giới được xem là đã chuyển giao người cho người khác trái với ý chí của nạn nhân nhằm trục lợi.

Thỏa thuận trước để “mua” người:
Nếu người nước ngoài và người môi giới đã bàn bạc, thống nhất trước về cách thức “xem mặt – lựa chọn – kết hôn”, đồng thời có việc trả tiền hoặc hứa trả tiền, thì bản chất của hành vi này là dùng tiền để trao đổi lấy người phụ nữ, có dấu hiệu rõ ràng của tội mua bán người.

Biết rõ mục đích bóc lột nhưng vẫn thực hiện:
Trường hợp người môi giới nhận thức được việc kết hôn chỉ là vỏ bọc, còn mục đích thực sự của người nước ngoài là đưa phụ nữ ra nước ngoài để bóc lột sức lao động, bóc lột tình dục hoặc bán cho người khác, nhưng vẫn tiến hành môi giới để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất, thì hành vi này cũng bị xem xét là đồng phạm trong tội mua bán người.

Núp bóng xuất khẩu lao động, nhận con nuôi:
Một số đối tượng lợi dụng danh nghĩa đưa người đi làm việc ở nước ngoài hoặc nhận con nuôi để thực hiện hành vi mua bán người.

Lừa đảo qua mạng xã hội:
Các đối tượng giả danh người yêu, người quen, dụ dỗ nạn nhân đi du lịch, thăm thân rồi đưa ra khu vực biên giới để bán cho các đối tượng nước ngoài.

Do đó, người dân cần hết sức cảnh giác với các hoạt động môi giới kết hôn qua trung gian, đặc biệt là các lời mời gọi “việc nhẹ lương cao”, “lấy chồng nước ngoài đổi đời”… để tránh trở thành nạn nhân của các hành vi vi phạm pháp luật.

[EN]

The article addresses legal issues concerning criminal liability for the offense of organizing or brokering illegal exit or unlawful stay abroad, criminal liability for the offense of human trafficking, and the identification of common methods used in human trafficking crimes, as analyzed by Tuyet Nhung Bui Law Firm for reference purposes.

1. Criminal liability for organizing or brokering illegal exit or unlawful stay abroad

The offense of organizing or brokering illegal exit or unlawful stay abroad is prescribed under Article 349 of the Penal Code, specifically as follows:

“Article 349. Organizing or brokering for others to illegally exit or unlawfully remain abroad

Any person who organizes or brokers for others to illegally exit or unlawfully remain abroad, except for cases falling under Article 120 of this Code, shall be subject to a penalty of between 01 and 05 years’ imprisonment.

The commission of the offense in any of the following circumstances shall result in a penalty of between 05 and 10 years’ imprisonment:
a) Abuse of position or power;
b) Commission of the offense two or more times;
c) Involving from 05 to 10 persons;
d) Professional nature;
dd) Illegal profit of from VND 100,000,000 to under VND 500,000,000;
e) Dangerous recidivism.

The commission of the offense in any of the following circumstances shall result in a penalty of between 07 and 15 years’ imprisonment:
a) Involving 11 or more persons;
b) Illegal profit of VND 500,000,000 or more;
c) Causing death.

The offender may also be subject to a fine of between VND 10,000,000 and VND 50,000,000 or be prohibited from holding certain positions or practicing certain professions or occupations for a period of 01 to 05 years.”

Where an intermediary directly organizes or arranges for women to go abroad illegally for the purpose of marriage brokerage with foreign nationals, the act of organizing illegal exit alone is sufficient to constitute the offense under Article 349 of the Penal Code.

However, depending on the intent, methods, and nature of the conduct, the offender may also be subject to criminal liability for other offenses.

2. Criminal liability for human trafficking

With respect to acts of arranging for women to go abroad for marriage brokerage, treating human beings as commodities and introducing them to others in exchange for money constitutes an unlawful act and may be deemed human trafficking.

Human trafficking is a serious violation of human rights, particularly the rights to liberty, dignity, and honor. Such acts are often associated with deceit, coercion, or exploitation of victims’ vulnerable circumstances for profit.

The offense of human trafficking is prescribed under Article 150 of the Penal Code, as follows:

“Article 150. Human trafficking

Any person who uses force, threatens to use force, deceives, or employs other means to commit one of the following acts shall be subject to a penalty of between 05 and 10 years’ imprisonment:
a) Transferring or receiving a person in exchange for money, property, or other material benefits;
b) Transferring or receiving a person for the purpose of sexual exploitation, forced labor, organ removal, or other inhumane purposes;
c) Recruiting, transporting, or harboring another person for the commission of acts specified in Points a or b of this Clause.

The commission of the offense in any of the following circumstances shall result in a penalty of between 08 and 15 years’ imprisonment:
a) Organized crime;
b) Base motives;
c) Causing injury, health damage, or mental and behavioral disorders to the victim with a bodily injury rate of 31% to 60%, except where falling under Point b, Clause 3 of this Article;
d) Taking the victim out of the territory of the Socialist Republic of Viet Nam;
dd) Involving from 02 to 05 persons;
e) Commission of the offense two or more times.

The commission of the offense in any of the following circumstances shall result in a penalty of between 12 and 20 years’ imprisonment:
a) Professional nature;
b) Organ removal;
c) Causing injury, health damage, or mental and behavioral disorders with a bodily injury rate of 61% or more;
d) Causing the victim’s death or suicide;
dd) Involving 06 or more persons;
e) Dangerous recidivism.

The offender may also be subject to a fine of between VND 20,000,000 and VND 100,000,000, probation, residence prohibition from 01 to 05 years, or confiscation of part or all of their property.”

Additionally, pursuant to Clause 1, Article 2 of Resolution No. 02/2019/NQ-HĐTP, marriage brokerage may be deemed human trafficking if the following indicators are present:

The intermediary entices, deceives, or coerces women into participation;

Exploitation of victims’ difficult circumstances or lack of awareness;

Victims are forced into unwanted marriages after going abroad;

Transfer or receipt of persons in exchange for money or material benefits;

Awareness that the marriage serves as a cover for labor exploitation, sexual exploitation, or resale, yet still proceeding.

Furthermore, acts such as recruitment, transportation, or harboring persons for the purpose of transfer are also considered human trafficking.

Notes:

Where a woman voluntarily goes abroad through a broker (without coercion or deception), meets a suitable spouse, and lives a stable family life abroad, or voluntarily participates in matchmaking but later returns to Viet Nam, criminal liability for human trafficking shall not arise for the intermediary.

Where a woman voluntarily follows a broker abroad but is intercepted at the border, and there is no evidence of coercion, deception, or intent to transfer her to another person for financial gain, the intermediary shall not be held criminally liable for human trafficking, but may instead be considered for violations related to illegal exit.

3. Identification of common methods used in human trafficking

In practice, human trafficking crimes are increasingly sophisticated and often disguised under legitimate forms such as marriage brokerage, overseas employment, or adoption. Common methods include:

Enticement, deception, and coercion:
Intermediaries lure victims with promises of a better life abroad. Victims may then be detained, threatened, or pressured into marrying foreign nationals against their will. Such conduct constitutes the transfer of a person against their will for profit.

Pre-arranged “purchase” agreements:
Where foreign individuals and intermediaries pre-arrange processes such as “selection – meeting – marriage,” accompanied by payment or promises of payment, the nature of the act reflects the exchange of money for a person, indicating human trafficking.

Awareness of exploitative purposes:
Where intermediaries are aware that marriage is merely a cover for labor or sexual exploitation or further sale, yet proceed for financial gain, they may be considered accomplices in human trafficking.

Disguised under labor export or adoption:
Some offenders exploit the guise of overseas employment programs or adoption procedures to traffic persons.

Online scams via social media:
Offenders impersonate lovers or acquaintances to lure victims into travel or visits, then transport them to border areas for sale to foreign parties.

Accordingly, individuals should exercise extreme caution regarding marriage brokerage activities, particularly offers such as “easy jobs with high income” or “marrying foreigners to change one’s life,” in order to avoid becoming victims of criminal acts.


TUYẾT NHUNG LAW cung cấp đội ngũ luật sư tư vấn giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực pháp luật. Liên hệ tư vấn các vấn pháp luật, vui lòng liên hệ theo số điện thoại 0975.982.169 hoặc qua email: lienhe@tuyetnhunglaw.vn để được hỗ trợ.

Lo Phuong Thao: