[Tham vấn bởi: Luật Sư Bui Thi Nhung]
Bài viết dưới đây đề cập đến nội dung pháp lý liên quan đến Spa chăm sóc da có phải là kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ không? Điều kiện an ninh, trật tự để kinh doanh dịch vụ thẩm mỹ gồm những gì? được Công Ty Luật Tuyết Nhung Bùi giải đáp sử dụng vào mục đích tham khảo.
1. Spa chăm sóc da có phải là kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ không?
Kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ là một trong những ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, chịu sự quản lý chặt chẽ về an ninh, trật tự cũng như chuyên môn y tế. Tuy nhiên, không phải mọi hoạt động trong lĩnh vực làm đẹp, bao gồm cả spa chăm sóc da, đều mặc nhiên được xếp vào nhóm ngành nghề này.
Căn cứ tại khoản 20 Điều 3 Nghị định 96/2016/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 58/2026/NĐ-CP quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và phạm vi quản lý như sau:
Theo đó, kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ được hiểu là các hoạt động có sử dụng thuốc, các chất hoặc thiết bị để can thiệp vào cơ thể người. Các can thiệp này bao gồm phẫu thuật, thủ thuật hoặc các hình thức xâm lấn khác như tiêm, chích, bơm, chiếu tia, sử dụng sóng, đốt… nhằm tác động trực tiếp đến cơ thể con người. Tuy nhiên, không phải mọi dịch vụ làm đẹp đều được coi là kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ. Những hoạt động chăm sóc sắc đẹp đơn thuần, không có sự can thiệp xâm lấn vào cơ thể (ví dụ như chăm sóc da cơ bản, massage, làm móng…) về nguyên tắc sẽ không thuộc phạm vi này và có thể được điều chỉnh theo quy định khác. Vì đều chỉ dừng lại ở mức tác động bên ngoài, không xâm lấn và không can thiệp vào cấu trúc bên trong cơ thể.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong trường hợp cơ sở spa thực hiện các dịch vụ có yếu tố can thiệp như tiêm, chích, đưa chất vào cơ thể, sử dụng thiết bị tác động sâu dưới da hoặc các phương pháp mang tính xâm lấn khác thì khi đó hoạt động này có thể bị xem là kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ. Khi đó, cơ sở bắt buộc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp lý tương ứng, bao gồm điều kiện về giấy phép hoạt động, nhân sự chuyên môn, cơ sở vật chất cũng như an ninh, trật tự.
Về mục đích, các hoạt động thẩm mỹ nêu trên được thực hiện nhằm thay đổi đặc điểm bên ngoài hoặc cải thiện chức năng cơ thể. Cụ thể, có thể bao gồm việc làm thay đổi màu sắc da, hình dạng cơ thể; hỗ trợ tăng hoặc giảm cân nặng như giảm béo, giảm mỡ; hoặc khắc phục các khiếm khuyết trên cơ thể. Ngoài ra, các dịch vụ tạo hình theo nhu cầu cá nhân đối với các bộ phận như mũi, mắt, môi, khuôn mặt, ngực, bụng, mông… cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định này.
Bên cạnh các can thiệp mang tính tạo hình, pháp luật cũng ghi nhận các hoạt động tái tạo, phục hồi tế bào, bộ phận hoặc chức năng cơ thể là một phần của dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ. Đây là nhóm dịch vụ có tính chất chuyên sâu, thường liên quan đến yếu tố y khoa và đòi hỏi điều kiện chặt chẽ về nhân sự, cơ sở vật chất cũng như giấy phép hoạt động.
Như vậy, có thể khẳng định rằng kinh doanh spa chăm sóc da không phải là kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ nếu chỉ thực hiện các dịch vụ không xâm lấn. Tuy nhiên, ranh giới giữa hai loại hình này phụ thuộc vào tính chất cụ thể của dịch vụ cung cấp. Do đó, cá nhân, tổ chức khi kinh doanh spa cần đặc biệt lưu ý để xác định đúng phạm vi hoạt động, từ đó tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật liên quan.
2. Điều kiện an ninh, trật tự để kinh doanh dịch vụ thẩm mỹ gồm những gì?
Căn cứ theo Điều 7 Nghị định 96/2016/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Nghị định 58/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện về an ninh trật tự đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ thẩm mỹ cần đáp ứng như sau:
“Điều 7. Điều kiện về an ninh, trật tự áp dụng chung cho các ngành, nghề
1. Được đăng ký, cấp phép hoặc thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh phải không thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đối với người Việt Nam:
Đã bị khởi tố hình sự mà các cơ quan tố tụng của Việt Nam hoặc của nước ngoài đang tiến hành điều tra, truy tố, xét xử.
Có tiền án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác do lỗi cố ý bị kết án từ trên 03 năm tù trở lên chưa được xóa án tích; đang trong thời gian thi hành hình phạt tù nhưng được hưởng án treo; đang trong thời gian được tạm hoãn chấp hành hình phạt tù; đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ; đang bị quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo quyết định của Tòa án.
Đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu; có quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian chờ thi hành quyết định; đang nghiện ma túy; đang được tạm hoãn, tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; đã bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính nhưng chưa đủ thời hạn để được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
b) Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu nước ngoài và người nước ngoài:
Chưa được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp phép cư trú.
3. Đủ điều kiện về an toàn phòng cháy và chữa cháy theo quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy.”
2.1. Đối với công dân Việt Nam
Người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh không được thuộc các trường hợp sau:
– Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự: Bao gồm các trường hợp đã bị khởi tố và đang trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài.
– Có tiền án nghiêm trọng chưa được xóa án tích: Đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội do lỗi cố ý mà bị kết án từ trên 03 năm tù trở lên.
– Đang chấp hành hoặc chưa chấp hành xong các hình phạt, biện pháp tư pháp: Ví dụ như đang thi hành án tù (kể cả án treo), cải tạo không giam giữ, quản chế, cấm cư trú hoặc bị cấm kinh doanh ngành nghề có điều kiện.
– Đang trong thời gian bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính: Bao gồm giáo dục tại địa phương, chờ thi hành quyết định xử lý hành chính, hoặc đã bị xử lý nhưng chưa đủ thời hạn để được coi là chưa bị áp dụng.
– Liên quan đến tệ nạn xã hội: Như đang nghiện ma túy hoặc đang trong thời gian cai nghiện bắt buộc, giáo dục bắt buộc.
2.2. Đối với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Trường hợp người chịu trách nhiệm là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu nước ngoài, thì bắt buộc phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp phép cư trú hợp pháp.
Ngoài các điều kiện về pháp lý và nhân thân, cơ sở kinh doanh dịch vụ thẩm mỹ còn phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về an toàn phòng cháy và chữa cháy (PCCC) theo quy định của pháp luật.
Đây là điều kiện đặc biệt quan trọng bởi các cơ sở thẩm mỹ thường sử dụng nhiều thiết bị điện, hóa chất, máy móc có nguy cơ cháy nổ cao. Việc tuân thủ quy định về PCCC không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là yếu tố đảm bảo an toàn cho khách hàng và nhân viên.
Tùy theo quy mô và tính chất hoạt động, cơ sở có thể phải thực hiện các thủ tục như: thẩm duyệt thiết kế PCCC, trang bị phương tiện chữa cháy, xây dựng phương án chữa cháy và được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, nghiệm thu.
Tóm lại, để kinh doanh dịch vụ thẩm mỹ hợp pháp, cơ sở cần đáp ứng ba nhóm điều kiện chính về an ninh, trật tự: (i) được thành lập hợp pháp; (ii) người chịu trách nhiệm có nhân thân rõ ràng, không thuộc các trường hợp bị cấm; và (iii) đảm bảo yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy.
Đây là những điều kiện bắt buộc theo quy định pháp luật hiện hành. Việc đáp ứng đầy đủ không chỉ giúp cơ sở hoạt động đúng pháp luật mà còn là nền tảng quan trọng để phát triển bền vững trong lĩnh vực thẩm mỹ đầy cạnh tranh hiện nay.