Quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình?

Bài viết này đề cập đến các nội dung liên quan đến quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình? Các vấn đề liên quan đến cấp dưỡng như: mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng và người có quyền yêu cầu cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 dùng vào mục đích tham khảo.

1. Gia đình là gì?

Gia đình và thành viên gia đình được xác định theo quy định cụ thể trong Khoản 2 và Khoản 16 của Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

Gia đình được định nghĩa là nhóm người có mối liên kết bởi hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, tạo ra các quyền và nghĩa vụ giữa họ theo quy định của luật này.

Thành viên gia đình bao gồm: vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.

2. Quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình?

2.1. Quyền, nghĩa vụ giữa các thành viên khác trong gia đình?

Được quy định tại Điều 103 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau: Các thành viên trong gia đình đều có quyền và nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, hỗ trợ và tôn trọng lẫn nhau. Quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến mối quan hệ gia đình và tài sản của các thành viên được quy định trong Luật này, Bộ luật dân sự và các luật liên quan, và được bảo vệ bởi pháp luật.

Trong trường hợp sống chung, các thành viên gia đình phải có nghĩa vụ tham gia vào các hoạt động gia đình, lao động để tạo thu nhập; họ cũng phải đóng góp bằng công sức, tiền bạc hoặc tài sản khác để duy trì cuộc sống chung của gia đình, phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể của mỗi người.

Nhà nước tạo ra chính sách để tạo điều kiện cho việc các thế hệ trong gia đình quan tâm, chăm sóc, hỗ trợ lẫn nhau, nhằm bảo tồn và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam; cũng khuyến khích các cá nhân và tổ chức trong xã hội tham gia vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam.

2.2. Quyền, nghĩa vụ của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu?

Được quy định tại Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau: Ông bà nội, ông bà ngoại có trách nhiệm và nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, và định hình mẫu mực tốt cho cháu; trong trường hợp cháu chưa đủ tuổi, hoặc đã đủ tuổi nhưng mất khả năng hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động cũng như không có tài sản để tự nuôi sống mình mà không có người bảo trợ theo quy định tại Điều 105 của Luật này, thì ông bà nội, ông bà ngoại có trách nhiệm nuôi dưỡng cháu.

Cháu phải tôn trọng, chăm sóc và hỗ trợ ông bà nội, ông bà ngoại; trong trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại không có con cái để nuôi dưỡng, cháu đã trưởng thành phải chịu trách nhiệm nuôi dưỡng họ.

2.3. Quyền, nghĩa vụ của anh, chị, em?

Được quy định tại Điều 105 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau: Anh, chị, em có quyền và nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, và hỗ trợ lẫn nhau; cũng như có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng lẫn nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không đủ khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng, và giáo dục con cái.

2.4. Quyền, nghĩa vụ của cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột?

Được quy định tại Điều 106 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau: Cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột có quyền và nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, và hỗ trợ lẫn nhau; cũng như có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng lẫn nhau trong trường hợp người cần được nuôi dưỡng không còn cha, mẹ, con và những người được quy định hoặc vẫn còn nhưng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng.

Ảnh minh hoạ

3. Ai có nghĩa vụ phải cấp dưỡng?

Được quy định tại Điều 107 đến Điều 115, Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau: Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha mẹ và con, giữa anh chị em, giữa ông bà nội ông bà ngoại và cháu, giữa cô dì chú cậu bác ruột và cháu ruột, giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ, theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định.

Trong trường hợp một người phải cấp dưỡng cho nhiều người, các bên sẽ thỏa thuận với nhau về cách thức và mức độ cấp dưỡng phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của người phải cấp dưỡng và nhu cầu cơ bản của người được cấp dưỡng. Nếu không thỏa thuận được, vấn đề sẽ được đưa ra Tòa án giải quyết.

Nếu nhiều người đều có nghĩa vụ cấp dưỡng cho một người hoặc nhiều người, họ cũng sẽ thỏa thuận với nhau về cách thức và mức độ đóng góp phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mỗi người và nhu cầu cơ bản của người được cấp dưỡng. Trong trường hợp không thể đạt được thỏa thuận, Tòa án sẽ can thiệp.

Cha mẹ có nhiệm vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, trong trường hợp không sống chung hoặc sống chung nhưng vi phạm nghĩa vụ cấp dưỡng.

Con đã thành niên không sống chung với cha mẹ phải cấp dưỡng cho cha mẹ nếu họ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Trong trường hợp không có cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con, anh chị đã thành niên không sống chung với em phải cấp dưỡng cho em nếu em chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; và em đã thành niên không sống chung với anh chị phải cấp dưỡng cho anh chị nếu anh chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu phải cấp dưỡng cho cháu nếu cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định.

Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại phải cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại nếu họ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định.

Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột phải cấp dưỡng cho cháu nếu cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định.

Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột phải cấp dưỡng cho họ nếu họ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định.

Khi ly hôn, nếu một bên gặp khó khăn, thiếu hụt và có lý do chính đáng, bên kia phải cấp dưỡng theo khả năng của mình.

4. Mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng?

Theo quy định tại Điều 116 đến Điều 117, Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau: Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của họ thỏa thuận dựa trên thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, vấn đề sẽ được đưa ra Tòa án giải quyết.

Khi có lý do hợp lệ, mức cấp dưỡng có thể điều chỉnh. Quyết định thay đổi mức cấp dưỡng phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên; nếu không thể đạt được sự thỏa thuận, vấn đề sẽ được giải quyết bởi Tòa án.

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng gặp khó khăn kinh tế và không thể thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không đạt được thỏa thuận, vấn đề sẽ được Tòa án giải quyết.

5. Việc cấp dưỡng sẽ chấm dứt khi nào?

Theo quy định tại Điều 118, Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì nghĩa vụ cấp dưỡng kết thúc trong các trường hợp sau đây:

Người được cấp dưỡng đã trưởng thành và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;

Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;

Người cấp dưỡng đã trực tiếp chăm sóc người được cấp dưỡng;

Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng qua đời;

Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã tái hôn;

Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

6. Người có quyền yêu cầu cấp dưỡng là ai?

Được quy định tại Điều 119, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau: Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của họ, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức dưới đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:

+ Người thân thích;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

+ Hội liên hiệp phụ nữ.

+ Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

TUYET NHUNG LAW cung cấp đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm xử lý các vụ án trên thực tế trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình. Liên hệ tư vấn; mời luật sư tham giao bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc thực hiện các thủ tục liên quan đến Hôn nhân và gia đình, vui lòng liên hệ số điện thoại hotline: 0975.982.169 hoặc gửi yêu cầu qua email: lienhe@tuyetnhunglaw.vn để được hỗ trợ.

Luật sư Bùi Thị Nhung: