Một bên vay nợ, có buộc cả hai vợ chồng cùng trả không?

[Tham vấn bởi: Luật Sư Bui Thi Nhung]

Bài viết dưới đây đề cập đến nội dung pháp lý liên quan đến Khi nào một nghĩa vụ được coi là nghĩa vụ liên đới? Một bên vay nợ, có buộc cả hai vợ chồng cùng trả không? được Công Ty Luật Tuyết Nhung Bùi giải đáp sử dụng vào mục đích tham khảo. 

1. Khi nào một nghĩa vụ được coi là nghĩa vụ liên đới?

Theo quy định tại Điều 288 Bộ luật dân sự 2015 thì nghĩa vụ liên đới được quy định cụ thể như sau:

“Điều 288. Thực hiện nghĩa vụ liên đới
1. Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.
2. Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.
3. Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ.
4. Trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.”

Theo đó, nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện, trong đó bên có quyền có thể yêu cầu bất kỳ người nào trong số những người có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

Lưu ý:

– Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.

– Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ.

– Trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.

2. Một bên vay nợ, có buộc cả hai vợ chồng cùng trả không?

Trong quan hệ vợ chồng, trách nhiệm liên đới được quy định cụ thể tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng
1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.
2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.”

Theo đó, vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với các giao dịch do một bên thực hiện trong một số trường hợp nhất định. Cụ thể,

(1) Vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với các giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình theo khoản 1 Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

“Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình
1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
2. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.”

Nhu cầu thiết yếu được hiểu là những nhu cầu cơ bản, không thể thiếu đối với đời sống chung như ăn, mặc, ở, học tập, khám chữa bệnh, chăm sóc con cái… Khi một bên tự mình thực hiện các giao dịch phục vụ những nhu cầu này, thì giao dịch đó không chỉ ràng buộc riêng người thực hiện mà còn làm phát sinh trách nhiệm đối với cả hai vợ chồng.

Lưu ý: Chỉ cần giao dịch có mục đích phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình, thì pháp luật mặc nhiên xác định trách nhiệm chung của cả hai. Ví dụ, người chồng tự vay tiền để chi trả viện phí cho con, hoặc người vợ mua thực phẩm phục vụ sinh hoạt hằng ngày của gia đình, thì dù bên còn lại không tham gia, họ vẫn phải cùng chịu trách nhiệm thanh toán.

Như vậy, nghĩa vụ liên đới của vợ chồng không cần có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí trước của vợ chồng, mà có thể chỉ do một bên vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba, nhưng do tính chất của giao dịch là nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, nên chịu sự ràng buộc, chi phối và kéo theo trách nhiệm liên đới của cả vợ và chồng.

Chẳng hạn, nếu người chồng tự mình vay tiền để chi trả viện phí cho con, hoặc người vợ ký hợp đồng mua lương thực, thực phẩm phục vụ sinh hoạt gia đình, thì dù bên còn lại không trực tiếp tham gia giao dịch, họ vẫn phải cùng chịu trách nhiệm thanh toán nghĩa vụ đó. Trong trường hợp này, bên có quyền (người cho vay, người bán hàng…) có thể yêu cầu bất kỳ người nào trong hai vợ chồng thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

Ngược lại, không phải mọi giao dịch do một bên vợ hoặc chồng xác lập đều làm phát sinh trách nhiệm liên đới. Nếu giao dịch không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, không thuộc trường hợp đại diện, và cũng không phải là nghĩa vụ chung về tài sản theo quy định của pháp luật, thì về nguyên tắc, người còn lại sẽ không phải chịu trách nhiệm. Ví dụ, một bên tự ý vay tiền để đầu tư cá nhân, kinh doanh riêng hoặc phục vụ mục đích cá nhân không liên quan đến gia đình, thì nghĩa vụ đó có thể được xác định là nghĩa vụ riêng của người thực hiện.

(2) Các giao dịch khác được xác lập theo cơ chế đại diện giữa vợ và chồng.

Các quy định tại Điều 24, 25 và 26 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cho phép một bên vợ hoặc chồng có thể đại diện cho bên còn lại trong một số quan hệ nhất định, bao gồm cả quan hệ dân sự và quan hệ kinh doanh.

Chẳng hạn, trong hoạt động kinh doanh chung của vợ chồng, nếu một bên đứng ra ký kết hợp đồng trong phạm vi đại diện, thì bên còn lại vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới đối với nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó. Tương tự, đối với tài sản chung mà giấy chứng nhận chỉ đứng tên một người, người đó vẫn có thể đại diện xác lập giao dịch liên quan đến tài sản chung, và giao dịch này có thể làm phát sinh trách nhiệm đối với cả hai.

(3) Vợ chồng còn phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các nghĩa vụ chung về tài sản theo quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”

Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, về nguyên tắc, dựa trên sự thỏa thuận, bàn bạc, thống nhất ý chí của vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch với người thứ ba. Vì vậy, khi một nghĩa vụ được xác định là nghĩa vụ liên đới của vợ chồng thì đương nhiên dẫn tới nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng; ngược lại, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng không phải lúc nào cũng là nghĩa vụ liên đới.

Một bên vợ hoặc chồng tự mình giao dịch không đương nhiên làm phát sinh trách nhiệm liên đới đối với người còn lại. Tuy nhiên, nếu giao dịch đó nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, hoặc thuộc các trường hợp đại diện, nghĩa vụ chung theo quy định của pháp luật, thì bên còn lại vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới, kể cả khi không có sự thỏa thuận hay thống nhất ý chí từ trước. Ngược lại, nếu giao dịch mang tính chất cá nhân, không phục vụ lợi ích chung của gia đình, thì trách nhiệm thường chỉ thuộc về người đã trực tiếp xác lập giao dịch.

Luật Tuyết Nhung Bùi – Hotline: 0975 982 169

[EN]

[Consulted by: Lawyer Bui Thi Nhung]

The article below addresses legal issues related to: When is an obligation considered a joint and several obligation? If one spouse incurs a debt, are both spouses required to repay it? The content is provided by Tuyet Nhung Bui Law Company for reference purposes.

1. When is an obligation considered a joint and several obligation?

Pursuant to Article 288 of the 2015 Civil Code, joint and several obligations are specifically provided as follows:

“Article 288. Performance of joint and several obligations
  1. A joint and several obligation is an obligation that must be performed by multiple persons, and the obligee may request any of the obligors to perform the entire obligation.
  2. Where one person has performed the entire obligation, he or she has the right to request the other joint obligors to perform their respective portions of the obligation to him or her.
  3. Where the obligee has designated one of the joint obligors to perform the entire obligation but subsequently releases that person, the remaining obligors shall also be released from the obligation.
  4. Where the obligee only releases one of the joint obligors from performing his or her portion of the obligation, the remaining obligors must still jointly perform their respective portions.”

Accordingly, a joint and several obligation is an obligation that must be performed by multiple persons, in which the obligee may request any one of them to perform the entire obligation.

Notes:

  • If one person has performed the entire obligation, he or she has the right to request the other joint obligors to fulfill their respective portions toward him or her.
  • If the obligee designates one joint obligor to perform the entire obligation but later releases that person, the remaining obligors are also released.
  • If the obligee only releases one obligor from performing his or her portion, the remaining obligors must still jointly perform their respective portions.

2. If one spouse incurs a debt, are both spouses required to repay it?

In marital relations, joint liability is specifically provided in Article 27 of the 2014 Law on Marriage and Family:

“Article 27. Joint liability of husband and wife
  1. Husband and wife shall bear joint liability for transactions carried out by one party as prescribed in Clause 1, Article 30 or other transactions in accordance with representation provisions under Articles 24, 25, and 26 of this Law.
  2. Husband and wife shall bear joint liability for obligations prescribed in Article 37 of this Law.”

Accordingly, spouses bear joint liability for transactions carried out by one party in certain cases. Specifically:

(1) Transactions serving the essential needs of the family

Spouses are jointly liable for transactions conducted by one party to meet the essential needs of the family under Clause 1, Article 30 of the 2014 Law on Marriage and Family:

“Article 30. Rights and obligations of husband and wife in meeting the essential needs of the family

  1. Husband and wife have the right and obligation to enter into transactions to meet the essential needs of the family.
  2. Where spouses have no common property or such property is insufficient to meet essential family needs, they are obliged to contribute their separate property according to their respective financial capacities.”

Essential needs are understood as basic and indispensable needs for family life such as food, clothing, housing, education, medical care, and childcare. When one spouse independently conducts transactions to serve these needs, such transactions bind not only the person performing them but also create obligations for both spouses.

Note: As long as the transaction aims to meet the essential needs of the family, the law automatically determines the joint liability of both spouses. For example, if the husband borrows money to pay a child’s hospital fees, or the wife purchases food for daily family use, even if the other spouse does not participate, both are still responsible for payment.

Thus, joint liability between spouses does not require prior agreement or mutual consent; it may arise from a transaction established by one spouse with a third party, provided that the nature of the transaction serves the essential needs of the family, thereby binding both husband and wife.

For instance, if a husband borrows money to pay hospital expenses for a child, or a wife signs a contract to purchase food for household use, even if the other spouse does not directly participate, both must still bear responsibility for fulfilling the obligation. In such cases, the obligee (lender, seller, etc.) may request either spouse to perform the entire obligation.

Conversely, not all transactions conducted by one spouse give rise to joint liability. If a transaction does not serve the essential needs of the family, does not fall under representation, and is not a common property obligation under the law, then in principle, the other spouse is not liable. For example, if one spouse independently borrows money for personal investment, separate business, or other personal purposes unrelated to the family, such obligation may be considered that person’s separate obligation.

(2) Other transactions established under representation between spouses

Articles 24, 25, and 26 of the 2014 Law on Marriage and Family allow one spouse to represent the other in certain relationships, including civil and business relations.

For example, in joint business activities, if one spouse signs a contract within the scope of representation, the other spouse must still bear joint liability for obligations arising from that contract. Similarly, for common property where the certificate is registered in only one person’s name, that person may represent both spouses in transactions relating to such property, which may create obligations for both.

(3) Joint property obligations under Article 37 of the 2014 Law on Marriage and Family

“Article 37. Joint property obligations of husband and wife
Husband and wife have the following joint property obligations:

  1. Obligations arising from transactions jointly agreed upon by the spouses, and compensation obligations for which both must be liable under the law;
  2. Obligations performed by one spouse to meet the essential needs of the family;
  3. Obligations arising from the possession, use, and disposition of common property;
  4. Obligations arising from the use of separate property to maintain or develop common property or to create the family’s primary source of income;
  5. Compensation for damage caused by children, where parents are liable under the Civil Code;
  6. Other obligations as prescribed by relevant laws.”

Joint property obligations of spouses are, in principle, based on agreement, discussion, and mutual consent in establishing, performing, and terminating transactions with third parties. Therefore, when an obligation is identified as a joint and several obligation of spouses, it naturally leads to a joint property obligation; conversely, not all joint property obligations are necessarily joint and several obligations.

A transaction conducted by one spouse does not automatically create joint liability for the other. However, if the transaction serves the essential needs of the family, falls under representation, or constitutes a joint obligation under the law, the other spouse must still bear joint liability, even without prior agreement or consent. Conversely, if the transaction is personal and does not serve the common interests of the family, liability generally belongs only to the person who directly entered into the transaction.


TUYẾT NHUNG LAW cung cấp đội ngũ luật sư tư vấn giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực pháp luật: Dân sự, hình sự, hành chính, thương mại, đất đai, hôn nhân gia đình, thuế … Liên hệ tư vấn các vấn pháp luật, vui lòng liên hệ theo số điện thoại 0975.982.169 hoặc qua email: lienhe@tuyetnhunglaw.vn để được hỗ trợ. 

Lo Phuong Thao: