1. Vé máy bay có phải là hợp đồng vận chuyển không?
Căn cứ vào khoản 1 Điều 143 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Hàng không dân dụng Việt Nam sửa đổi 2014):
“Điều 143. Hợp đồng vận chuyển hành khách, hành lý
1. Hợp đồng vận chuyển hành khách, hành lý bằng đường hàng không là sự thoả thuận giữa người vận chuyển và hành khách, theo đó người vận chuyển chuyên chở hành khách, hành lý đến địa điểm đến và hành khách phải thanh toán cước phí vận chuyển.”
Ngoài ra, căn cứ khoản 1 Điều 143 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Hàng không dân dụng Việt Nam sửa đổi 2014):
“Điều 144. Vé hành khách, thẻ hành lý
1. Vé hành khách là chứng từ vận chuyển hành khách bằng đường hàng không và là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng, các điều kiện của hợp đồng. Vé hành khách được xuất cho cá nhân hoặc tập thể bao gồm các nội dung sau đây:
a) Địa điểm xuất phát và địa điểm đến;
b) Chỉ dẫn ít nhất một địa điểm dừng thoả thuận trong trường hợp vận chuyển có địa điểm xuất phát và địa điểm đến ở lãnh thổ của cùng một quốc gia và có một hoặc nhiều địa điểm dừng thoả thuận ở lãnh thổ của quốc gia khác.”
Như vậy vé máy bay là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng vận chuyển hàng không, và hợp đồng được hình thành tại thời điểm hãng bay phát hành vé.
2. Delay là gì? Delay chuyến bay là gì?
Delay chuyến bay (chậm chuyến) là tình trạng máy bay khởi hành muộn hơn so với thời gian dự kiến trong lịch bay.
Theo khoản 2 Điều 8 Thông tư 81/2014/TT-BGTVT (sửa đổi bởi Thông tư 19/2023/TT-BGTVT): “Chuyến bay bị chậm là chuyến bay có thời gian khởi hành thực tế muộn trên 15 phút so với thời gian khởi hành theo kế hoạch trong lịch bay căn cứ.”
3. Từ 1/7/2026: Hãng bay phải bố trí ăn nghỉ, đi lại cho hành khách nếu Delay?
Tình trạng chậm trễ chuyến bay (delay) ngày càng xảy ra thường xuyên, khiến nhiều hành khách bị lỡ dở công việc và ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch cá nhân. Không ít chuyến bay bị kéo dài giờ cất cánh, khiến “delay” gần như trở thành chuyện quen thuộc đối với những người hay di chuyển bằng đường hàng không.Tại sân bay, nhiều hành khách phải ngồi chờ đợi mệt mỏi từ 8–12 tiếng, liên tục nhận thông báo hoãn mà vẫn không biết chính xác khi nào máy bay mới khởi hành. Thậm chí có người phải qua đêm tại sân bay trong tâm trạng bức xúc.
Trước những bất cập kéo dài trong tình trạng chậm, hoãn chuyến bay và những hệ lụy đối với hành khách, yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý ngày càng trở nên cấp thiết. Mới đây, Quốc hội đã thông qua Luật Hàng không dân dụng Việt Nam (sửa đổi), với nhiều quy định làm rõ nghĩa vụ của hãng hàng không đối với hành khách trong các trường hợp chuyến bay bị chậm, hủy hoặc khi từ chối vận chuyển, và sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Cụ thể, theo điểm d Khoản 2 Điều 53 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, về vận chuyển hành khách, hành lý quy định như sau: “Trường hợp hành khách đã được xác nhận chỗ trên chuyến bay nhưng việc vận chuyển bị chậm, bị hủy hoặc bị từ chối vận chuyển mà không phải do lỗi của hành khách thì người vận chuyển phải thông báo kịp thời, xin lỗi hành khách, bảo đảm việc ăn, nghỉ, đi lại và chịu các chi phí có liên quan trực tiếp phù hợp với thời gian phải chờ đợi tại cảng hàng không”
Theo đó, trong trường hợp hành khách đã có xác nhận chỗ trên chuyến bay nhưng việc vận chuyển không đúng kế hoạch do chuyến bay bị chậm, bị hủy, hoặc hành khách bị từ chối vận chuyển mà không phải do lỗi của hành khách, hãng bay phải:
Thứ nhất, hãng bay phải thông báo đầy đủ và kịp thời
Ngay khi có sự thay đổi, hãng cần chủ động cung cấp thông tin chính xác về tình trạng chuyến bay, thời gian dự kiến cất cánh mới và lý do dẫn đến việc chậm, hủy hoặc từ chối vận chuyển. Bên cạnh việc cập nhật thông tin, hãng còn phải gửi lời xin lỗi đến hành khách vì sự bất tiện phát sinh.
Thứ hai, hãng phải đảm bảo việc ăn, nghỉ và đi lại trong thời gian hành khách phải chờ đợi, đồng thời chịu toàn bộ các chi phí liên quan trực tiếp.
Điều này bao gồm việc cung cấp suất ăn, nước uống phù hợp theo từng thời điểm chờ; bố trí nơi nghỉ ngơi nếu thời gian chờ kéo dài, đặc biệt là khi hành khách phải lưu lại qua đêm tại sân bay. Ngoài ra, hãng cũng phải hỗ trợ phương tiện đi lại như xe đưa đón giữa sân bay và khách sạn hoặc phương tiện di chuyển khi hành khách được sắp xếp sang chuyến bay khác.
Lưu ý:
– Dù chuyến bay bị delay do lý do kỹ thuật, lý do khai thác hay do thời tiết xấu, miễn là không có lỗi của hành khách thì hãng bay vẫn phải bảo đảm quyền lợi đầy đủ.
– Ngoài ra: Trường hợp hành khách đã được xác nhận chỗ trên chuyến bay nhưng việc vận chuyển bị chậm, bị huỷ hoặc bị từ chối vận chuyển do lỗi của hãng hàng không, thì hãng bay có trách nhiệm phải:
Thông báo kịp thời về tình trạng chuyến bay, lý do và thời gian khởi hành dự kiến. Đồng thời, trong thời gian chờ đợi, hãng phải quan tâm, hỗ trợ hành khách, đặc biệt là những người cần trợ giúp như người khuyết tật, người cao tuổi, phụ nữ mang thai hoặc trẻ em đi cùng. Bên cạnh trách nhiệm thông báo và chăm sóc, hãng hàng không còn phải đảm bảo suất ăn, nước uống, chỗ nghỉ khi chờ lâu và hỗ trợ phương tiện di chuyển khi cần. Mọi chi phí chờ đợi này đều do hãng chi trả.
Nếu việc vận chuyển không được thực hiện đúng kế hoạch do lỗi của hãng, hãng phải thu xếp lại hành trình phù hợp để hành khách tiếp tục di chuyển một cách thuận lợi nhất. Trường hợp hành khách không muốn tiếp tục hành trình, hãng phải hoàn trả lại tiền phần vé chưa sử dụng theo đúng yêu cầu và tuyệt đối không được thu thêm bất kỳ khoản phí nào.
[EN]
This article addresses legal issues concerning whether an airline ticket constitutes a contract of carriage, the meaning of “delay,” what constitutes a flight delay, and whether, from 1 July 2026, airlines are required to arrange meals, accommodation, and transportation for passengers in the event of flight delays. The content is provided by Tuyet Nhung Bui Law Firm for reference purposes only.
1. Does an Airline Ticket Constitute a Contract of Carriage?
Pursuant to Clause 1, Article 143 of the Law on Civil Aviation of Vietnam 2006 (as amended and supplemented by the 2014 Law Amending the Law on Civil Aviation of Vietnam):
“Article 143. Contract for the Carriage of Passengers and Baggage
A contract for the carriage of passengers and baggage by air is an agreement between the carrier and the passenger, whereby the carrier undertakes to transport the passenger and baggage to the destination, and the passenger is obliged to pay the carriage charges.”
In addition, pursuant to Clause 1, Article 144 of the Law on Civil Aviation of Vietnam 2006 (as amended and supplemented by the 2014 Law Amending the Law on Civil Aviation of Vietnam):
“Article 144. Passenger Tickets and Baggage Checks
A passenger ticket is a document evidencing the carriage of passengers by air and serves as proof of the conclusion of the contract and its terms and conditions. A passenger ticket shall be issued to an individual or a group and shall contain the following particulars:
a) Place of departure and place of destination;
b) Indication of at least one agreed stopping place in cases where the carriage has a place of departure and a place of destination within the territory of the same State and one or more agreed stopping places within the territory of another State.”*
Accordingly, an airline ticket constitutes evidence of the conclusion of an air carriage contract, and such contract is deemed to be formed at the time the airline issues the ticket.
2. What Is “Delay”? What Is a Flight Delay?
“Delay” is an English term meaning lateness, postponement, or an extension of time compared to the original plan.
A flight delay (delayed flight) refers to a situation in which an aircraft departs later than the scheduled time indicated in the flight schedule.
Pursuant to Clause 2, Article 8 of Circular No. 81/2014/TT-BGTVT (as amended by Circular No. 19/2023/TT-BGTVT):
“A delayed flight is a flight whose actual departure time is more than 15 minutes later than the scheduled departure time in the applicable flight schedule.”
Accordingly, a flight is considered delayed if its actual departure time is more than 15 minutes later than the scheduled departure time stated in the flight schedule.