Bài viết đề cập đến nội dung liên quan đến [2026] Khi nào hợp đồng chuyển nhượng đất bị vô hiệu? được Công Ty Luật Tuyết Nhung Bùigiải đáp sử dụng vào mục đích tham khảo.
Về bản chất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, để hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phát sinh hiệu lực pháp luật, trước hết giao dịch này phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự. Trường hợp không đáp ứng các điều kiện này, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu theo Điều 122 Bộ luật Dân sự.
[2026] Khi nào hợp đồng chuyển nhượng đất bị vô hiệu?
Thứ nhất, hợp đồng vô hiệu do chủ thể xác lập không đủ điều kiện tham gia giao dịch.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, một giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ bị vô hiệu nếu chủ thể xác lập hợp đồng không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, các chủ thể này còn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện chung để thực hiện quyền chuyển nhượng theo quy định tại Điều 45 Luật Đất đai 2024. Cụ thể, người sử dụng đất chỉ được chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận theo quy định, đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực pháp luật, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án, còn trong thời hạn sử dụng đất và không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời….
Như vậy, trong trường hợp chủ thể ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không thuộc đối tượng được pháp luật cho phép hoặc không đáp ứng một trong các điều kiện nêu trên, thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể bị tuyên vô hiệu do vi phạm điều kiện về chủ thể tham gia giao dịch. Bên cạnh đó, đối với một số chủ thể đặc thù, pháp luật còn đặt ra các điều kiện riêng khi thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Thứ hai, hợp đồng vô hiệu do không bảo đảm tính tự nguyện của các bên do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, một giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi “Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện”. Tính tự nguyện là điều kiện bắt buộc nhằm bảo đảm ý chí thực sự của các bên khi xác lập giao dịch.
Căn cứ Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Cụ thể:
“Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.”
Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ có hiệu lực pháp luật khi được các bên xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Trường hợp việc giao kết hợp đồng không bảo đảm yếu tố tự nguyện do bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép thì hợp đồng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, hợp đồng vô hiệu do mục đích hoặc nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.
Theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự có mục đích hoặc nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì bị vô hiệu. Cụ thể:
“Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.”
Đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, pháp luật đất đai quy định cụ thể các điều kiện bắt buộc mà hợp đồng phải tuân thủ để được coi là hợp pháp. Căn cứ Điều 45 Luật Đất đai, người sử dụng đất chỉ được thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện như: có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định; đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền; quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; còn trong thời hạn sử dụng đất; và không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trường hợp các bên không bảo đảm một hoặc nhiều điều kiện nêu trên nhưng vẫn thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì mục đích và nội dung của hợp đồng đã vi phạm các điều cấm của pháp luật đất đai. Khi đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự.
Thứ tư, hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, pháp luật về đất đai và các quy định pháp luật có liên quan. Cụ thể:
“Điều 502. Hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất 1. Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.” Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai quy định cụ thể về việc công chứng, chứng thực đối với các hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất. Theo đó “3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau: a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này; b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên; c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự; d) Việc công chứng, chứng thực thực hiện theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực.”
Như vậy, về nguyên tắc, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ có hiệu lực pháp luật khi được lập thành văn bản và được công chứng hoặc chứng thực theo quy định. Trường hợp các bên thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không tuân thủ các yêu cầu bắt buộc về hình thức thì hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực về hình thức.
Tuy nhiên, theo Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp giao dịch vi phạm quy định về hình thức nhưng một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của các bên, Tòa án có thể ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Khi được công nhận, các bên không phải thực hiện lại thủ tục công chứng, chứng thực.
Luật Tuyết Nhung Bùi – Hotline: 0975 982 169
[EN]
[Consulted by: Lawyer Bui Thi Nhung]
This article addresses issues related to [2026] When is a land use rights transfer contract invalid?, as explained by Tuyết Nhung Bùi Law Firm, for reference purposes only.
By its nature, the transfer of land use rights is a civil transaction as prescribed in Article 116 of the 2015 Civil Code. Therefore, for a land use rights transfer contract to take legal effect, the transaction must first fully satisfy the conditions for validity of a civil transaction as stipulated in Article 117 of the Civil Code. If these conditions are not met, the land use rights transfer contract may be declared invalid by the Court pursuant to Article 122 of the Civil Code.
[2026] When is a land use rights transfer contract invalid?
First, the contract is invalid due to the parties lacking legal capacity to enter into the transaction.
Pursuant to Point a, Clause 1, Article 117 of the 2015 Civil Code, a civil transaction is valid only when “the parties have civil legal capacity and civil act capacity appropriate to the established civil transaction.” Accordingly, a land use rights transfer contract shall be invalid if the party establishing the contract does not meet the legal requirements prescribed by law.
In addition, such parties must fully satisfy the general conditions for exercising the right to transfer as stipulated in Article 45 of the 2024 Land Law. Specifically, a land user may only transfer land use rights when having a valid Certificate as prescribed by law; the land is free from disputes or any disputes have been resolved by a legally effective decision; the land use rights are not subject to distraint for enforcement of judgments; the land is still within its permitted term of use; and no interim emergency measures are being applied, among other conditions.
Thus, where the party signing the land use rights transfer contract is not eligible under the law or fails to satisfy any of the above conditions, the contract may be declared invalid due to violation of the conditions relating to the subject participating in the transaction. Moreover, for certain special categories of subjects, the law also prescribes additional specific conditions for exercising the right to transfer land use rights.
Second, the contract is invalid due to lack of voluntariness as a result of deception, threat, or coercion.
Under Point b, Clause 1, Article 117 of the 2015 Civil Code, a civil transaction is valid only when “the parties participating in the civil transaction do so completely voluntarily.” Voluntariness is a mandatory condition to ensure the true intent of the parties when establishing the transaction.
Pursuant to Article 127 of the 2015 Civil Code, where a party enters into a civil transaction as a result of deception, threat, or coercion, such party has the right to request the Court to declare the transaction invalid. Specifically:
“Article 127. Invalid civil transactions due to deception, threat, or coercion
Where a party participates in a civil transaction due to deception or due to being threatened or coerced, that party has the right to request the Court to declare the civil transaction invalid.
Deception in a civil transaction is an intentional act by one party or a third party that causes the other party to misunderstand the subject, the nature of the object, or the content of the civil transaction, thereby entering into such transaction.
Threat or coercion in a civil transaction is an intentional act by one party or a third party that forces the other party to carry out the civil transaction in order to avoid harm to their life, health, honor, dignity, reputation, property, or those of their close relatives.”*
Accordingly, a land use rights transfer contract only has legal effect when it is established on the basis of complete voluntariness of the parties. If the conclusion of the contract lacks voluntariness due to deception, threat, or coercion, the contract may be declared invalid by the Court in accordance with the law.
Third, the contract is invalid because its purpose or content violates prohibitions of law or contravenes social ethics.
Pursuant to Article 123 of the 2015 Civil Code, a civil transaction whose purpose or content violates prohibitions of law or contravenes social ethics shall be invalid. Specifically:
“Article 123. Invalid civil transactions due to violation of prohibitions of law or social ethics
A civil transaction whose purpose or content violates prohibitions of law or contravenes social ethics shall be invalid.
Prohibitions of law are legal provisions that do not permit subjects to perform certain acts.
Social ethics are common standards of conduct in social life that are recognized and respected by the community.”*
With respect to land use rights transfer transactions, land law specifically prescribes mandatory conditions that a contract must comply with to be considered lawful. Pursuant to Article 45 of the Land Law, land users may only transfer land use rights when fully satisfying conditions such as: having a land use rights certificate as prescribed by law; the land being free from disputes or disputes having been resolved by legally effective decisions of competent authorities; land use rights not being subject to distraint to secure judgment enforcement; remaining within the land use term; and not being subject to interim emergency measures.
Where the parties fail to ensure one or more of the above conditions but still carry out the transfer of land use rights, the purpose and content of the contract violate prohibitions under land law. In such cases, the land use rights transfer contract may be declared invalid by the Court pursuant to Article 123 of the Civil Code.
Fourth, the contract is invalid due to non-compliance with formal requirements.
Under Clause 1, Article 502 of the 2015 Civil Code, contracts concerning land use rights must be made in writing in a form consistent with the Civil Code, land law, and other relevant legal provisions. Specifically:
“Article 502. Form and procedures for performance of contracts concerning land use rights
1. Contracts concerning land use rights must be made in writing in a form consistent with this Code, land law, and other relevant legal provisions.
…”
In addition, Clause 3, Article 27 of the Land Law provides specific regulations on notarization and certification of contracts and documents relating to the exercise of land users’ rights. Accordingly:
“3. Notarization and certification of contracts and documents on the exercise of land users’ rights shall be carried out as follows:
a) Contracts for transfer, donation, mortgage, or capital contribution using land use rights or land use rights and assets attached to land must be notarized or certified, except for cases specified in Point b of this Clause;
b) Contracts for lease or sublease of land use rights or land use rights and assets attached to land; contracts for exchange of agricultural land use rights; and contracts for transfer or capital contribution using land use rights or land use rights and assets attached to land where one or more parties are real estate business organizations shall be notarized or certified upon request of the parties;
c) Documents on inheritance of land use rights or land use rights and assets attached to land shall be notarized or certified in accordance with civil law;
d) Notarization and certification shall be conducted in accordance with laws on notarization and certification.”*
Accordingly, in principle, a land use rights transfer contract only has legal effect when it is made in writing and duly notarized or certified as required by law. If the parties carry out the transfer of land use rights without complying with these mandatory formal requirements, the contract may be declared invalid due to violation of the formal validity conditions.
However, pursuant to Article 129 of the 2015 Civil Code, where a transaction violates formal requirements but one or more parties have performed at least two-thirds of their obligations under the transaction, the Court may, at the request of the parties, issue a decision recognizing the validity of such transaction. Once recognized, the parties are not required to re-perform notarization or certification procedures.
TUYẾT NHUNG LAW cung cấp đội ngũ luật sư tư vấn giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực pháp luật: Dân sự, hình sự, hành chính, thương mại, đất đai, hôn nhân gia đình, thuế … Liên hệ tư vấn các vấn pháp luật, vui lòng liên hệ theo số điện thoại 0975.982.169 hoặc qua email: lienhe@tuyetnhunglaw.vn để được hỗ trợ.