Không lập giấy vay nợ có đòi lại được tiền không?

[Được tham vấn bởi: Luật sư Bùi Thị Nhung]
Bài viết đề cập đến nội dung liên quan đến Phân biệt hợp đồng vay tài sản và hợp đồng mượn tài sản? Không lập giấy vay nợ có đòi lại được tiền không? Khi nào hành vi vay tiền không trả bị xử lý hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản? được Công Ty Luật Tuyết Nhung Bùi giải đáp sử dụng vào mục đích tham khảo. 

1. Phân biệt hợp đồng vay tài sản và hợp đồng mượn tài sản

1.1. Khái niệm
Đối với hợp đồng vay tài sản, căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Trong khi đó, đối với hợp đồng mượn tài sản, Điều 494 Bộ luật Dân sự 2015 nêu rõ: Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.
1.2. Nghĩa vụ của các bên
Đối với hợp đồng vay tài sản, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại, đúng số lượng và chất lượng đã nhận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi hoặc pháp luật có quy định phải trả lãi, bên vay phải thực hiện nghĩa vụ trả lãi đúng thỏa thuận. Đây là loại hợp đồng dân sự có thể có đền bù hoặc không có đền bù, cụ thể:
• Hợp đồng vay có đền bù: khi có thỏa thuận về việc trả lãi đối với tài sản vay.
• Hợp đồng vay không đền bù: khi các bên không thỏa thuận hoặc pháp luật không quy định về nghĩa vụ trả lãi.
Ngược lại, đối với hợp đồng mượn tài sản, bên mượn có nghĩa vụ bảo quản tài sản, sử dụng đúng công dụng và mục đích đã thống nhất, đồng thời phải hoàn trả đúng thời hạn hoặc khi mục đích mượn đã đạt được tài sản đã mượn — đúng hiện trạng ban đầu. Đặc trưng quan trọng của hợp đồng mượn tài sản là không phát sinh nghĩa vụ trả tiền, nên đây được xem là hợp đồng dân sự không có đền bù.
1.3. Rủi ro và trách nhiệm pháp lý
Đối với hợp đồng vay tài sản, khi tài sản đã được chuyển giao cho bên vay, rủi ro đối với tài sản đó cũng do bên vay chịu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Vì vậy, nếu tài sản vay bị mất, hư hỏng trong thời hạn vay thì bên vay vẫn phải hoàn trả đúng số lượng, chất lượng như đã cam kết. Đồng thời, bên vay phải sử dụng tài sản đúng mục đích (nếu có thỏa thuận) và hoàn trả đúng thời hạn. Trường hợp trả chậm, trả thiếu hoặc sử dụng không đúng thỏa thuận gây thiệt hại, bên vay phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên cho vay.
Ngược lại, đối với hợp đồng mượn tài sản, bên mượn có nghĩa vụ giữ gìn và bảo quản tài sản trong suốt quá trình sử dụng, đồng thời không được tự ý làm thay đổi tình trạng ban đầu của tài sản. Nếu tài sản bị hư hỏng thông thường do sử dụng, bên mượn phải tự sửa chữa; còn nếu tài sản bị mất mát hoặc hư hỏng do lỗi của bên mượn, thì phải bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bên cho mượn theo quy định của pháp luật.

2. Không lập giấy vay nợ có đòi lại được tiền không?

Trong cuộc sống, việc cho vay tiền dựa trên sự tin tưởng, không lập giấy tờ hay hợp đồng bằng văn bản diễn ra rất phổ biến, đặc biệt giữa người thân, bạn bè hoặc đồng nghiệp. Tuy nhiên, khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bên cho vay thường rơi vào tình huống khó khăn vì thiếu chứng cứ. Vậy pháp luật quy định thế nào và cần làm gì để đòi lại số tiền đã cho vay?
2.1. Quyền khởi kiện khi bị chiếm dụng tiền vay
Mặc dù không có giấy vay nợ, người cho vay vẫn hoàn toàn có quyền khởi kiện để đòi lại tiền theo Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, quy định về quyền khởi kiện như sau:
Điều 186. Quyền khởi kiện vụ án
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”
Như vậy, nếu bên vay chây ì, né tránh hoặc cố tình không trả tiền như đã hẹn, bên cho vay có quyền gửi đơn khởi kiện ra Tòa để yêu cầu giải quyết.
Trước khi khởi kiện, người cho vay nên chủ động gặp gỡ hoặc gửi yêu cầu thanh toán bằng văn bản để ghi nhận thêm chứng cứ về việc đòi nợ.
2.2. Cần chứng minh tồn tại giao dịch vay tiền
Do không có giấy tờ vay, việc chứng minh đã có hành vi cho vay và chưa được thanh toán là yếu tố quan trọng nhất. Theo Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, chứng cứ có thể được thu thập từ nhiều nguồn, bao gồm:
Điều 94. Nguồn chứng cứ
Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:
1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử.
2. Vật chứng.
3. Lời khai của đương sự.
4. Lời khai của người làm chứng.
5. Kết luận giám định.
6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.
7. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.
8. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập.
9. Văn bản công chứng, chứng thực.
10. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.”
Chỉ cần đảm bảo chứng cứ thể hiện rõ số tiền vay, thời điểm vay và nghĩa vụ trả nợ, thì Tòa án có thể xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

3.Khi nào hành vi vay tiền không trả bị xử lý hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản?

Trong quan hệ vay tiền thông thường, nếu bên vay đến hạn nhưng chưa trả thì trước hết đây là tranh chấp dân sự và được giải quyết theo hướng khởi kiện tại Tòa án để buộc thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, khi có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản, người cho vay có thể tố giác hành vi này về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
Theo đó, người vay tiền có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các hành vi sau:
– Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
– Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Bên cạnh đó, để xử lý hình sự, Hành vi chiếm đoạt tài sản phải có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên hoặc dưới 4 triệu nhưng đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản mà chưa xóa án tích
Như vậy: Hành vi vay tiền không trả chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi người vay có yếu tố chiếm đoạt, thể hiện qua thủ đoạn gian dối, bỏ trốn, hoặc có khả năng nhưng cố ý không trả nợ nhằm chiếm đoạt tài sản của bên cho vay.
Trong mọi trường hợp có dấu hiệu này, dù không lập giấy vay nợ, người cho vay vẫn có quyền khởi kiện dân sự hoặc tố giác hình sự. Tuy nhiên, để được cơ quan có thẩm quyền thụ lý, người cho vay phải cung cấp chứng cứ chứng minh việc vay mượn đã diễn ra như: ghi âm, tin nhắn, giao dịch chuyển tiền, người làm chứng…
vay nợ không có giấy tờ
Luật Tuyết Nhung Bùi – Hotline: 0975 982 169

[EN]

[Consulted by: Lawyer Bui Thi Nhung]
The article addresses issues related to the distinction between a loan agreement and a borrowing agreement. Can money be reclaimed without a loan document? When is the act of borrowing money and not repaying it subject to criminal prosecution for the crime of abusing trust to appropriate property? This is answered by Tuyet Nhung Bui Law Firm for reference purposes.

1. Distinguishing between a loan agreement and a borrowing agreement

1.1. Definition
According to Article 463 of the Civil Code 2015, a loan agreement is an agreement between the parties, whereby the lender transfers assets to the borrower; upon maturity, the borrower must return to the lender the same type of assets in the correct quantity and quality, and must only pay interest if there is an agreement or if the law provides for it.
In contrast, according to Article 494 of the Civil Code 2015, a borrowing agreement is an agreement between the parties, whereby the lender transfers assets to the borrower for use for a specified period without payment, and the borrower must return the assets when the borrowing period expires or the purpose of borrowing has been achieved.
1.2. Obligations of the parties
In a loan agreement, the borrower has the obligation to return to the lender the same type of assets, in the correct quantity and quality as received. If the parties have agreed on interest payment or if the law requires interest payment, the borrower must fulfill the obligation to pay interest as agreed. This type of civil contract can be either compensated or non-compensated, specifically:
+ Compensated loan agreement: when there is an agreement on interest payment for the borrowed assets.
+ Non-compensated loan agreement: when the parties do not agree or the law does not provide for the obligation to pay interest.
In contrast, in a borrowing agreement, the borrower has the obligation to preserve the assets, use them for the intended purpose and in accordance with the agreed terms, and must return them on time or when the purpose of borrowing has been achieved. An important characteristic of a borrowing agreement is that it does not generate a payment obligation, so it is considered a non-compensated civil contract.
1.3. Risks and legal responsibilities
In a loan agreement, once the assets have been transferred to the borrower, the risk associated with those assets is borne by the borrower, unless the parties have agreed otherwise or the law provides otherwise. Therefore, if the borrowed assets are lost or damaged during the loan period, the borrower must still return the correct quantity and quality as committed. Additionally, the borrower must use the assets for the intended purpose (if agreed) and return them on time. In case of late payment, insufficient payment, or improper use causing damage, the borrower must compensate the lender.
In contrast, in a borrowing agreement, the borrower has the obligation to keep and preserve the assets throughout the usage period and must not unilaterally change the initial condition of the assets. If the assets are damaged due to normal use, the borrower must repair them; if the assets are lost or damaged due to the borrower’s fault, they must fully compensate the lender for the damages as stipulated by law.

2. Debt collection when lending money without documentation?

In life, lending money based on trust, without written documents or contracts, is very common, especially among relatives, friends, or colleagues. However, when the borrower fails to fulfill their repayment obligation, the lender often finds themselves in a difficult situation due to a lack of evidence. So what does the law stipulate, and what should be done to recover the lent amount?
2.1. Right to sue when money lent is misappropriated
Although there is no loan document, the lender still has the right to file a lawsuit to recover the money according to Article 186 of the Civil Procedure Code 2015, which stipulates the right to sue as follows:
Article 186. Right to initiate a lawsuit
Agencies, organizations, and individuals have the right to initiate a lawsuit themselves or through a legal representative at a competent court to request the protection of their legal rights and interests.”
Thus, if the borrower is evasive, avoids repayment, or intentionally does not pay as agreed, the lender has the right to submit a lawsuit to the court for resolution.
Before filing a lawsuit, the lender should proactively meet or send a written request for payment to further document evidence of the debt collection.
2.2. Need to prove the existence of the loan transaction
Since there is no loan document, proving that a lending action has occurred and has not been repaid is the most crucial factor. According to Article 94 of the Civil Procedure Code 2015, evidence can be collected from various sources, including:
Article 94. Sources of evidence
Evidence can be collected from the following sources:
1. Readable, audible, visible documents, electronic data.
2. Physical evidence.
3. Testimonies of the parties involved.
4. Testimonies of witnesses.
5. Expert conclusions.
6. Minutes recording the results of on-site inspections.
7. Results of asset valuation, asset appraisal.
8. Documents recording legal events and actions made by authorized individuals.
9. Notarized or authenticated documents.
10. Other sources as prescribed by law.
As long as the evidence clearly shows the loan amount, the time of the loan, and the repayment obligation, the court may consider accepting the lawsuit request.

3. When is the act of borrowing money without repayment subject to criminal prosecution for the crime of abusing trust to appropriate property?

In a typical borrowing relationship, if the borrower has not repaid by the due date, this is primarily a civil dispute and is resolved by initiating a lawsuit in court to compel the fulfillment of obligations. However, when there are signs of property appropriation, the lender can report this act as a crime of abusing trust to appropriate property according to Article 175 of the Penal Code of 2015, amended and supplemented in 2017.
Article 175. Crime of abusing trust to appropriate property
1. Any person who commits one of the following acts to appropriate property of another person valued from 4,000,000 VND to less than 50,000,000 VND or less than 4,000,000 VND but has been administratively sanctioned for the act of appropriating property or has been convicted of this crime or one of the crimes specified in Articles 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174, and 290 of this Code, has not had their criminal record expunged and continues to violate, or the property is the main means of livelihood of the victim and their family, shall be subject to non-custodial reform for up to 3 years or imprisonment from 6 months to 3 years:
a) Borrowing, renting, or leasing property from another person or receiving property from another person through a contract and then using deceitful tricks or fleeing to appropriate that property or failing to return the property by the due date despite having the conditions and ability to do so;
b) Borrowing, renting, or leasing property from another person or receiving property from another person through a contract and using that property for illegal purposes leading to an inability to return the property.
2. If the crime is committed in one of the following circumstances, the offender shall be subject to imprisonment from 2 years to 7 years:
a) Organized;
b) Professional nature;
c) Appropriating property valued from 50,000,000 VND to less than 200,000,000 VND;
d) Abusing positions, powers, or exploiting the name of an agency or organization;
dd) Using cunning tricks;
e) Causing adverse effects on security, order, and social safety;
g) Dangerous recidivism.
3. If the crime appropriates property valued from 200,000,000 VND to less than 500,000,000 VND, the offender shall be subject to imprisonment from 5 years to 12 years.
4. If the crime appropriates property valued at 500,000,000 VND or more, the offender shall be subject to imprisonment from 12 years to 20 years.
5. The offender may also be subject to a fine from 10,000,000 VND to 100,000,000 VND, prohibition from holding certain positions, prohibition from practicing or doing certain jobs for 1 year to 5 years, or confiscation of part or all of the property.”
Accordingly, a borrower can be criminally prosecuted if they engage in one of the following acts:
– Borrowing, renting, or leasing property from another person or receiving property from another person through a contract and then using deceitful tricks or fleeing to appropriate that property or failing to return the property by the due date despite having the conditions and ability to do so;
– Borrowing, renting, or leasing property from another person or receiving property from another person through a contract and using that property for illegal purposes leading to an inability to return the property.
In addition, to be subject to criminal prosecution, the act of appropriating property must have a value of 4 million VND or more, or less than 4 million but has been administratively sanctioned or has been convicted of the act of appropriating property without having their criminal record expunged.
Thus: The act of borrowing money without repayment is only subject to criminal prosecution for the crime of abusing trust to appropriate property when the borrower has elements of appropriation, demonstrated through deceitful tricks, fleeing, or having the ability but intentionally not repaying the debt to appropriate the lender’s property.
In any case where there are signs of this, even without a loan agreement, the lender still has the right to initiate a civil lawsuit or report a criminal act. However, to have the competent authority accept the case, the lender must provide evidence proving that the borrowing occurred, such as recordings, messages, money transfer transactions, witnesses, etc.

CÔNG TY LUẬT TUYẾT NHUNG BÙI cung cấp đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm xử lý các vụ án trên thực tế trong lĩnh vực dân sự. Liên hệ tư vấn, mời luật sư tham giao bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đại diện theo uỷ quyền trong tố tụng và ngoài tố tụng. Vui lòng liên hệ số điện thoại hotline: 0975.982.169 hoặc gửi yêu cầu qua email: lienhe@tuyetnhunglaw.vn để được hỗ trợ. 
Theo dõi chúng tôi trên
5/5 - (1 bình chọn)
CÙNG CHỦ ĐỀ
Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu gọi lại Yêu cầu dịch vụ