Thử việc có bị ngừng trợ cấp thất nghiệp?

[Được tham vấn bởi: Luật sư Bùi Thị Nhung]
Bài viết đề cập đến nội dung liên quan đến Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp? Thời gian thử việc có phải là “có việc làm” hay không? Thử việc có bị ngừng trợ cấp thất nghiệp? Thời điểm chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp? được Công Ty Luật Tuyết Nhung Bùi giải đáp sử dụng vào mục đích tham khảo. 

1. Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp

Căn cứ Điều 38 Luật Việc làm năm 2025, người lao động được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, về việc chấm dứt quan hệ lao động

Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc phù hợp với quy định của pháp luật, không thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Lao động và không thuộc trường hợp nghỉ việc khi đã đủ điều kiện hưởng lương hưu.

Thứ hai, về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp

Người lao động đã tham gia và đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định, cụ thể:

Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc;

Trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 12 tháng thì phải có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong vòng 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Thứ ba, về thời hạn nộp hồ sơ

Người lao động phải nộp đầy đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc.

Trường hợp quá thời hạn này mà người lao động không nộp hồ sơ thì sẽ mất quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp cho đợt thất nghiệp đó, dù đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện khác.

Thứ tư, về tình trạng việc làm sau khi nộp hồ sơ

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ, người lao động chưa có việc làm và không thuộc các trường hợp bị loại trừ, như:

– Đã có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc;

– Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường trực;

– Đi học tập có thời hạn trên 12 tháng;

– Bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

– Bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù;

– Ra nước ngoài định cư hoặc đã chết.

Như vậy, khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động tại doanh nghiệp và đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên thì sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật.

2. Thời gian thử việc có phải là “có việc làm” hay không?

Trường hợp người lao động đang trong thời gian thử việc bản chất chưa làm phát sinh quan hệ lao động đầy đủ, bởi:

– Người lao động chưa ký hợp đồng lao động chính thức, mà chỉ giao kết hợp đồng thử việc hoặc thỏa thuận thử việc. Chỉ trong trường hợp các bên thỏa thuận nội dung thử việc ngay trong hợp đồng lao động thì mới được coi là đã xác lập quan hệ lao động từ thời điểm hợp đồng lao động có hiệu lực;

– Người sử dụng lao động chưa có nghĩa vụ tham gia và đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm cả bảo hiểm thất nghiệp, cho người lao động trong thời gian thử việc theo hợp đồng thử việc độc lập.

Trong khi đó, theo quy định tại Nghị định số 374/2025/NĐ-CP, một trong những căn cứ quan trọng để xác định người lao động đã có việc làm là việc người lao động đã giao kết hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả tiền công, tiền lương từ 01 tháng trở lên.

Như vậy, người lao động đang trong thời gian thử việc theo hợp đồng thử việc, chưa ký hợp đồng lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì chưa được coi là đã có việc làm

3. Thử việc có bị ngừng trợ cấp thất nghiệp?

Trong quá trình đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động có thể bị chấm dứt hưởng trợ cấp nếu rơi vào các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định số 374/2025/NĐ-CP. Theo đó, người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp khi người lao động đã có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Người lao động được xác định là có việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau:

– Đã giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp hợp đồng có tên gọi khác nhưng nội dung thể hiện việc làm có trả lương, tiền công;

– Có quyết định tuyển dụng hoặc bổ nhiệm đối với trường hợp không giao kết hợp đồng;

– Là chủ hộ kinh doanh hoặc chủ doanh nghiệp và đã đăng ký hoạt động kinh doanh;

– Đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Thời điểm xác định người lao động có việc làm được xác định như sau:

– Trường hợp ký hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận khác có nội dung làm việc và trả lương từ 01 tháng trở lên thì ngày có việc làm là ngày hợp đồng có hiệu lực;

– Trường hợp được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm theo quyết định của cơ quan, tổ chức thì ngày có việc làm là ngày ghi trong quyết định tuyển dụng hoặc bổ nhiệm;

– Trường hợp là chủ hộ kinh doanh hoặc chủ doanh nghiệp đã được cấp giấy đăng ký kinh doanh thì ngày có việc làm là ngày người lao động thông báo với tổ chức dịch vụ việc làm công về việc bắt đầu hoạt động kinh doanh;

– Trường hợp đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì ngày có việc làm là ngày người lao động xuất cảnh theo quy định của pháp luật.

Như vậy, chỉ khi người lao động ký hợp đồng lao động có hiệu lực hoặc thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì mới bị coi là đã có việc làm và bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp. Việc đi thử việc không làm phát sinh căn cứ chấm dứt hưởng trợ cấp.

Lưu ý: Trường hợp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp mà bị chấm dứt hưởng trợ cấp vào bất kỳ ngày nào trong tháng đang hưởng thì vẫn được hưởng trợ cấp thất nghiệp của toàn bộ tháng đó.

4.Thời điểm chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

Căn cứ khoản 1 Điều 27 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về việc kết thúc thời gian thử việc:

Điều 27. Kết thúc thời gian thử việc
1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.
Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.
Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.”

Theo đó, khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo kết quả thử việc cho người lao động. Nếu thử việc đạt yêu cầu, người sử dụng lao động phải tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết hoặc ký hợp đồng lao động mới; nếu thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng thử việc.

Từ đó,

– Nếu hết thời gian thử việc mà doanh nghiệp không ký hợp đồng lao động, quan hệ lao động chính thức chưa được xác lập, người lao động chưa được coi là đã có việc làm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và tiếp tục được hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu vẫn đáp ứng các điều kiện khác;

– Nếu doanh nghiệp ký hợp đồng lao động hoặc tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết, thì kể từ thời điểm hợp đồng lao động có hiệu lực, người lao động được xác định là đã có việc làm và bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.

Như vậy, thời điểm ký hợp đồng lao động và thời điểm hợp đồng lao động có hiệu lực chính là căn cứ pháp lý để xác định việc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, chứ không phải thời điểm người lao động bắt đầu thử việc hay thời điểm kết thúc thử việc trên thực tế.

Lưu ý: trường hợp người lao động đã đủ điều kiện ký hợp đồng lao động nhưng người lao động và người sử dụng lao động cố tình trì hoãn việc ký kết hợp đồng nhằm tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 40 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP.

tro cap that nghiep
Luật Tuyết Nhung Bùi – Hotline: 0975 982 169

[EN]

[Consulted by: Lawyer Bui Thi Nhung]

This article addresses issues relating to the following questions: What are the conditions for unemployment benefits? Is the probationary period considered “having a job”? Does probation lead to suspension of unemployment benefits? When does unemployment benefit entitlement terminate? These matters are explained by Tuyet Nhung Bui Law Firm for reference purposes only.

1. Conditions for Entitlement to Unemployment Benefits

Pursuant to Article 38 of the 2025 Law on Employment, an employee is entitled to unemployment benefits when fully satisfying the following conditions:

First, termination of the employment relationship

The employee must have lawfully terminated an employment contract or working contract, or ceased employment in accordance with the law, and must not fall under the case of unlawful unilateral termination as prescribed by the Labor Code, nor the case of resignation after having become eligible for a pension.

Second, period of unemployment insurance contributions

The employee must have participated in and paid unemployment insurance as required by law, specifically:

– Having paid unemployment insurance for at least 12 months within the 24 months preceding the termination of the employment contract, working contract, or employment;

– In the case of employees working under a fixed-term employment contract with a term of from 01 month to under 12 months, they must have paid unemployment insurance for at least 12 months within the 36 months preceding the termination of the employment contract.

Third, time limit for submission of the application dossier

The employee must submit a complete dossier for unemployment benefits within 03 months from the date of termination of the employment contract, working contract, or employment.

If this time limit expires without submission of the dossier, the employee will lose entitlement to unemployment benefits for that unemployment period, even if all other conditions have been satisfied.

Fourth, employment status after submission of the dossier

Within 10 working days from the date of submission of a complete dossier, the employee must still be unemployed and must not fall under any of the excluded cases, such as:

– Having obtained employment and being subject to compulsory social insurance;

– Performing military service, service in the People’s Public Security forces, or serving in the standing militia;

– Attending education or training programs with a duration exceeding 12 months;

– Being subject to compulsory education or compulsory drug rehabilitation measures;

– Being held in custody or serving a prison sentence;

– Settling abroad permanently or having died.

Accordingly, when an employee lawfully terminates an employment contract and satisfies all of the above conditions, he or she shall be entitled to unemployment benefits in accordance with the law.

2. Is the Probationary Period Considered “Having a Job”?

In essence, during the probationary period, a full employment relationship has not yet been established, because:

– The employee has not entered into an official employment contract, but only a probationary contract or a separate probation agreement. Only where the probationary terms are incorporated directly into the employment contract may the employment relationship be deemed to have been established from the effective date of that contract;

– The employer is not obliged to participate in or pay compulsory social insurance, including unemployment insurance, for the employee during the probationary period under a separate probationary contract.

Meanwhile, pursuant to Decree No. 374/2025/NĐ-CP, one of the key bases for determining that an employee has obtained employment is the conclusion of a working contract or employment contract, including cases where the contract bears a different title but contains provisions indicating paid work or wages for a duration of one month or more.

Therefore, an employee who is undergoing probation under a probationary contract, has not entered into an employment contract, and is not subject to compulsory social insurance, is not considered to have obtained employment.

3. Does Probation Lead to Suspension of Unemployment Benefits?

While receiving unemployment benefits, an employee may have such benefits terminated if falling into the cases prescribed in Clause 1, Article 19 of Decree No. 374/2025/NĐ-CP. Accordingly, unemployment benefits shall be terminated when the employee has obtained employment and is subject to compulsory social insurance.

An employee is deemed to have obtained employment in one of the following cases:

– Having entered into an employment contract or working contract with a term of one month or more, including contracts bearing a different title but reflecting paid employment;

– Having a recruitment or appointment decision in cases where no contract is concluded;

– Being the owner of a household business or an enterprise that has been duly registered;

– Working abroad under a contract.

The time at which an employee is deemed to have obtained employment is determined as follows:

– For employment contracts or agreements providing paid work for one month or more: the effective date of the contract;

– For recruitment or appointment by decision: the date stated in the recruitment or appointment decision;

– For household business owners or enterprise owners: the date the employee notifies the public employment service organization of the commencement of business operations;

– For overseas employment under a contract: the date of departure from the country in accordance with the law.

Accordingly, only when an employee enters into an effective employment contract or becomes subject to compulsory social insurance is he or she considered to have obtained employment and, therefore, unemployment benefits shall be terminated. Merely undergoing probation does not constitute a basis for termination of unemployment benefits.

Note: If unemployment benefits are terminated on any day within a month for which benefits are being paid, the employee is still entitled to receive unemployment benefits for the entire month.

4. Time of Termination of Unemployment Benefits

Pursuant to Clause 1, Article 27 of the 2019 Labor Code on the conclusion of the probationary period:

“Article 27. Conclusion of the probationary period

  1. Upon the conclusion of the probationary period, the employer shall notify the employee of the probation results.
    Where the probation is satisfactory, the employer shall continue performing the employment contract in cases where probation terms are included in the employment contract, or shall enter into an employment contract in cases of a separate probationary contract.
    Where the probation is unsatisfactory, the concluded employment contract or probationary contract shall be terminated.”

Accordingly, upon the end of the probationary period, the employer must notify the employee of the probation result. If the probation is satisfactory, the employer must continue performing the existing employment contract or conclude a new employment contract; if the probation is unsatisfactory, the employment contract or probationary contract shall be terminated.

Therefore:

– If the probationary period ends but the enterprise does not enter into an employment contract, a formal employment relationship has not yet been established. In this case, the employee is not considered to have obtained employment under unemployment insurance law and may continue to receive unemployment benefits if other conditions are still satisfied;

– If the enterprise enters into an employment contract or continues to perform an already concluded employment contract, then from the effective date of the employment contract, the employee is deemed to have obtained employment and unemployment benefits shall be terminated in accordance with the law.

Thus, the date of signing and the effective date of the employment contract constitute the legal basis for determining the termination of unemployment benefits, rather than the date on which probation commenced or actually ended.

Note: Where an employee is eligible to enter into an employment contract but both the employee and the employer deliberately delay signing the contract in order to continue receiving unemployment benefits, such conduct constitutes a violation of the law and may be subject to administrative penalties under Article 40 of Decree No. 12/2022/NĐ-CP.


TUYẾT NHUNG LAW cung cấp đội ngũ luật sư tư vấn giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực pháp luật: Dân sự, hình sự, hành chính, thương mại, đất đai, hôn nhân gia đình, thuế … Liên hệ tư vấn các vấn pháp luật, vui lòng liên hệ theo số điện thoại 0975.982.169 hoặc qua email: lienhe@tuyetnhunglaw.vn để được hỗ trợ.

Theo dõi chúng tôi trên
5/5 - (1 bình chọn)
CÙNG CHỦ ĐỀ
Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu gọi lại Yêu cầu dịch vụ