Hành vi nào bị cấm trong Luật hôn nhân và gia đình?

Bài viết này cung cấp các thông tin pháp lý liên quan đến những hành vi bị cấm theo quy quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 như kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ và một số hành vi khác cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý?

– Luật hôn nhân và gia đình 2014;

– Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2022;

– Nghị định số: 82/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2020 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

2. Hành vi nào bị cấm trong Luật hôn nhân và gia đình?

2.1. Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo

Kết hôn giả tạo là việc sử dụng hôn nhân nhằm mục đích rời nước, nhập cư, định cư, nhập quốc tịch tại Việt Nam hoặc nước ngoài; tận dụng các lợi ích của chính phủ hoặc để đạt được mục đích khác không liên quan đến việc xây dựng gia đình.
Việc kết hôn giả tạo có thể bị xử phạt hành chính theo điểm d, khoản 2, Điều 59, Nghị định số: 82/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2020 bằng hình thức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với việc lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác không liên quan đến mục tiêu xây dựng gia đình.
Ly hôn giả tạo là việc sử dụng ly hôn nhằm trốn tránh trách nhiệm tài chính, vi phạm các chính sách, quy định pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác không phải là chấm dứt hôn nhân.
Việc ly hôn giả tạo có thể bị xử phạt hành chính theo điểm đ, khoản 2, Điều 59, Nghị định số: 82/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2020 bằng hình thức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.
The health advantages of marriage - Harvard Health
Ảnh minh hoạ

2.2. Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn

– Tảo hôn là việc kết hôn khi một hoặc cả hai bên không đủ tuổi theo quy định. Hành vi này bị nghiêm cấm theo luật pháp nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình.

Hành vi tảo hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 58 của Nghị định số: 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 ở mức như sau:

+ Từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.

+ Từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

– Cưỡng ép kết hôn là hành vi dùng đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách cải hoặc các biện pháp khác nhằm ép buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn mà không phản ánh ý muốn của họ.

Theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 59, Nghị định số: 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ, hành vi “cưỡng ép kết hôn” sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Lừa dối kết hôn là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba với mục đích gây hiểu lầm cho bên kia và dẫn đến việc bên đó đồng ý kết hôn; nếu không có hành vi này, bên bị lừa dối sẽ không đồng ý kết hôn.

Theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 59, Nghị định số: 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ, hành vi “lừa dối kết hôn” sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

– Cản trở kết hônhành vi sử dụng đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc các biện pháp khác nhằm ngăn cản người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, hoặc ép buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân mà không phản ánh ý muốn của họ.
Theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 59, Nghị định số: 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ, hành vi “Cản trở kết hôn” sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

2.3. Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ

– Hiện tại, chưa có tài liệu hướng dẫn định nghĩa chính thức về khái niệm sống chung như vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Tuy nhiên, có thể tham khảo tại mục 3.1 của Thông tư liên tịch số: 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC, hướng dẫn về việc thực hiện Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật hình sự do Bộ Tư pháp – Bộ Công an – TANDTC – Viện KSNDTC ban hành. Theo đó, sống chung như vợ chồng được định nghĩa là: “việc người đang có vợ hoặc chồng chung sống với người khác, hoặc người chưa có vợ hoặc chồng nhưng lại sống chung với người mà họ biết rõ là đang có vợ hoặc chồng, một cách công khai hoặc không công khai, nhưng cùng thực hiện sinh hoạt hàng ngày như một gia đình. Sự sống chung như vợ chồng thường được xác định bằng: Việc có con chung; Được cộng đồng hàng xóm và xã hội xung quanh coi như là vợ chồng; Có tài sản chung; hoặc được công nhận bởi gia đình, cơ quan, hoặc tổ chức giáo dục, mà quan hệ vẫn tiếp tục được duy trì.
Người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính ở mức 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng theo quy định tại Điều 59 Nghị định số: 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020. 

2.4. Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

Như đã phân tích ở trên, hiện nay, chưa có tài liệu hướng dẫn định nghĩa chính thức về khái niệm sống chung như vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Tuy nhiên, có thể tham khảo tại mục 3.1 của Thông tư liên tịch số: 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC, hướng dẫn về việc thực hiện Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật hình sự do Bộ Tư pháp – Bộ Công an – TANDTC – Viện KSNDTC ban hành. Theo đó, sống chung như vợ chồng được định nghĩa là: “việc người đang có vợ hoặc chồng chung sống với người khác, hoặc người chưa có vợ hoặc chồng nhưng lại sống chung với người mà họ biết rõ là đang có vợ hoặc chồng, một cách công khai hoặc không công khai, nhưng cùng thực hiện sinh hoạt hàng ngày như một gia đình. Sự sống chung như vợ chồng thường được xác định bằng: Việc có con chung; Được cộng đồng hàng xóm và xã hội xung quanh coi như là vợ chồng; Có tài sản chung; hoặc được công nhận bởi gia đình, cơ quan, hoặc tổ chức giáo dục, mà quan hệ vẫn tiếp tục được duy trì. 

Theo quy định tại điểm a, b khoản 2, Điều 59, Nghị định số: 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ, hành vi ” Hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng” sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

2.5. Yêu sách của cải trong kết hôn

Yêu sách về tài sản khi kết hôn là việc đòi hỏi một cách quá mức về vật chất và coi đó là điều kiện để kết hôn, nhằm cản trở quyết định kết hôn tự nguyện của nam, nữ.
Theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 59, Nghị định số: 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ, hành vi “Yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn” sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

2.6. Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn

– Cưỡng ép ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải ly hôn trái với ý muốn của họ.

Lừa dối ly hôn là hành vi cố ý của một bên hoặc một người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý ly hôn.
Cản trở ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.
Theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 59, Nghị định số: 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ, hành vi “Yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn” sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

2.7. Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính

Theo quy định tại khoản 1, Điều 60, Nghị định số: 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ, hành vi “Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính” sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Phân biệt thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm - Bệnh Viện Nam Học Hiếm Muộn Việt-Bỉ

Ảnh minh hoạ

2.8. Bạo lực gia đình

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 quy định Hành vi bạo lực gia đình bao gồm có:

– Hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;

– Lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

– Cưỡng ép chứng kiến bạo lực đối với người, con vật nhằm gây áp lực thường xuyên về tâm lý;

– Bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, chăm sóc thành viên gia đình là trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật, người không có khả năng tự chăm sóc; không giáo dục thành viên gia đình là trẻ em;

– Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính, năng lực của thành viên gia đình;

– Ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh hoặc hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý;

– Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

– Tiết lộ hoặc phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

– Cưỡng ép thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của vợ hoặc chồng;

– Cưỡng ép trình diễn hành vi khiêu dâm; cưỡng ép nghe âm thanh, xem hình ảnh, đọc nội dung khiêu dâm, kích thích bạo lực;

– Cưỡng ép tảo hôn, kết hôn, ly hôn hoặc cản trở kết hôn, ly hôn hợp pháp;

– Cưỡng ép mang thai, phá thai, lựa chọn giới tính thai nhi;

– Chiếm đoạt, hủy hoại tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình;

– Cưỡng ép thành viên gia đình học tập, lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát tài sản, thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần hoặc các mặt khác;

– Cô lập, giam cầm thành viên gia đình;

– Cưỡng ép thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp trái pháp luật.

Xử phạt hành chính:

Theo Điều 52 của Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021, hành vi xâm phạm sức khỏe thành viên gia đình sẽ bị xử phạt như sau:

+ Xử phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

Xử phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng cho một trong các hành vi sau đây:

Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

Không đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị kịp thời trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu ngay lập tức hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc phải xin lỗi công khai khi nạn nhân yêu cầu;

Buộc phải chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh nếu có.

Đồng thời, Điều 53 của Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 quy định mức phạt hành chính đối với hành vi hành hạ, ngược đãi thành viên gia đình như sau:

+ Xử phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng cho một trong các hành vi sau đây:

Đối xử tồi tệ với thành viên gia đình như: bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân;

Bỏ mặc không chăm sóc thành viên gia đình là người cao tuổi, yếu, khuyết tật, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con nhỏ.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc phải xin lỗi công khai khi nạn nhân yêu cầu.

Truy tố hình sự:

Người thực hiện hành vi bạo lực gia đình có thể chịu trách nhiệm hình sự về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình, như quy định tại Điều 185 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đôỉ bổ sung quy định như sau:

Người nào đối xử tồi tệ hoặc thực hiện hành vi bạo lực xâm phạm thân thể của ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình trong một trong các trường hợp sau đây sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Thường xuyên làm cho nạn nhân phải chịu đau đớn về cả thể xác lẫn tinh thần;

Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà vẫn tiếp tục vi phạm.

– Nếu phạm tội trong một trong các trường hợp sau đây, sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mang thai, người già yếu;

Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.

Ngoài ra, trong trường hợp hành vi bạo lực gia đình dẫn đến các tội khác trong Bộ luật Hình sự như: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác – Điều 134; Tội hành hạ người khác – Điều 140; hoặc trong trường hợp gây chết người, có thể bị truy cứu về Tội giết người – Điều 123 hoặc một số tội khác thì người phạm tội sẽ bị xử lý tùy theo hành vi, mức độ phạm tội và hậu quả mà họ gây ra.


TUYET NHUNG LAW cung cấp đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm xử lý các vụ án trên thực tế. Liên hệ tư vấn hoặc mời luật sư tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp vui lòng liên hệ số điện thoại hotline: 0975.982.169 hoặc gửi yêu cầu qua email: buinhunglw2b@gmail.com để được hỗ trợ kịp thời.

Theo dõi chúng tôi trên
CÙNG CHỦ ĐỀ
Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu gọi lại Yêu cầu dịch vụ