Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ có được pháp luật công nhận không?
[Tham vấn bởi: Luật Sư Bui Thi Nhung]
Bài viết dưới đây đề cập đến nội dung pháp lý liên quan đến Hợp đồng kỳ nghỉ là gì? Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ có được pháp luật công nhận không? Doanh nghiệp không thực hiện đúng nội dung quảng bá thì hợp đồng có vô hiệu không? được Công Ty Luật Tuyết Nhung Bùi giải đáp sử dụng vào mục đích tham khảo.
Trong những năm gần đây, mô hình sở hữu kỳ nghỉ (timeshare) ngày càng trở nên phổ biến tại Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp giới thiệu đây là giải pháp giúp khách hàng được nghỉ dưỡng định kỳ tại các khu nghỉ dưỡng cao cấp với mức chi phí được cho là tiết kiệm hơn so với việc đặt phòng riêng lẻ từng lần. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không ít tranh chấp đã phát sinh giữa khách hàng và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, đặc biệt liên quan đến việc thực hiện các cam kết quảng bá, quyền hủy bỏ hợp đồng hoặc yêu cầu hoàn trả số tiền đã thanh toán.
1. Hợp đồng kỳ nghỉ là gì?
Được gọi là “hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ”, nhưng trên thực tế đây không phải là hợp đồng mua bán hoặc chuyển nhượng bất động sản. Người tham gia chương trình không trở thành chủ sở hữu căn hộ, biệt thự hay phòng nghỉ tại khu nghỉ dưỡng sau khi ký kết hợp đồng. Thay vào đó, doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng quyền sử dụng dịch vụ lưu trú trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận.
Do đó, xét về bản chất, đây là hợp đồng dịch vụ theo quy định tại Điều 513 Bộ luật Dân sự năm 2015
Như vậy, bản chất của giao dịch không phải là mua bán bất động sản mà là việc trả tiền trước để được sử dụng dịch vụ lưu trú trong tương lai. Đây là một dạng hợp đồng dịch vụ mà đối tượng của hợp đồng là việc cung cấp dịch vụ nghỉ dưỡng, lưu trú trong tương lai.
2. Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ có được pháp luật công nhận không?
Pháp luật không cấm các bên thỏa thuận về việc cung cấp và sử dụng dịch vụ nghỉ dưỡng trong tương lai. Vì vậy, hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ vẫn được pháp luật công nhận và bảo vệ nếu được giao kết hợp pháp, đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể:
Như vậy, một giao dịch dân sự được công nhận có hiệu lực khi các bên tham gia có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự; việc giao kết được thực hiện trên cơ sở tự nguyện; mục đích, nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và đáp ứng yêu cầu về hình thức trong trường hợp pháp luật có quy định.
Đối với hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ, nếu khách hàng tự nguyện ký kết hợp đồng, được cung cấp các điều khoản liên quan đến quyền nghỉ dưỡng, giá trị hợp đồng, phương thức thanh toán và không có căn cứ chứng minh việc bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép thì hợp đồng được xem là đáp ứng các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật.
Khi đó, hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ và các phụ lục kèm theo sẽ phát sinh hiệu lực pháp luật, có giá trị ràng buộc đối với các bên và các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng các cam kết đã thỏa thuận.
Trên thực tế, nhiều chương trình sở hữu kỳ nghỉ yêu cầu khách hàng thanh toán một khoản tiền đặt cọc hoặc tiền giữ chỗ trước khi ký kết hợp đồng chính thức. Khoản tiền này thường được xác lập nhằm bảo đảm việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng theo Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Như vậy, Sau khi hợp đồng được ký kết, khoản tiền đặt cọc thường được chuyển thành một phần nghĩa vụ thanh toán của khách hàng theo hợp đồng. Vì vậy, việc khách hàng đã tự nguyện nộp tiền đặt cọc và tiếp tục ký kết hợp đồng thường được xem là căn cứ thể hiện ý chí tự nguyện tham gia giao dịch.
Do đó, không phải vì hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ liên quan đến dịch vụ nghỉ dưỡng trong tương lai mà hợp đồng không được pháp luật công nhận. Ngược lại, nếu được giao kết đúng quy định, đây vẫn là một giao dịch dân sự hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ ràng buộc đối với các bên như các loại hợp đồng dân sự khác.
3. Doanh nghiệp không thực hiện đúng nội dung quảng bá thì hợp đồng có vô hiệu không?
Trên thực tế, sau khi ký kết hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ, một số khách hàng cho rằng quyền lợi thực tế nhận được không giống với những nội dung đã được giới thiệu trong quá trình tư vấn hoặc không còn nhu cầu tiếp tục sử dụng dịch vụ nên mong muốn hủy bỏ hợp đồng và nhận lại số tiền đã thanh toán. Tuy nhiên, việc quyền lợi thực tế không đáp ứng kỳ vọng hoặc việc khách hàng thay đổi nhu cầu cá nhân không phải là căn cứ đương nhiên để yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự chỉ bị tuyên vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp vô hiệu do pháp luật quy định như: giả tạo, bị nhầm lẫn, bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, người xác lập không có năng lực hành vi dân sự phù hợp hoặc nội dung giao dịch vi phạm điều cấm của luật.
Vì vậy, việc doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ các nội dung đã quảng bá không đương nhiên làm cho hợp đồng bị vô hiệu.
Chỉ khi khách hàng chứng minh được mình đã giao kết hợp đồng do bị doanh nghiệp cung cấp thông tin sai lệch, che giấu thông tin quan trọng hoặc có hành vi lừa dối theo quy định tại Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mới có cơ sở xem xét yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc chứng minh hành vi lừa dối không phải lúc nào cũng dễ dàng. Nhiều nội dung quảng bá chỉ được thể hiện trong quá trình tư vấn, giới thiệu sản phẩm hoặc trao đổi bằng lời nói mà không được ghi nhận trong hợp đồng, phụ lục hợp đồng hoặc các tài liệu chính thức khác. Khi đó, khách hàng có thể gặp khó khăn trong việc chứng minh doanh nghiệp đã đưa ra những cam kết cụ thể để làm căn cứ ký kết hợp đồng.
Vì vậy, trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện đúng các nội dung đã quảng bá, khách hàng không đương nhiên được quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Tùy từng vụ việc cụ thể, khách hàng có thể yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khác theo quy định của pháp luật nếu chứng minh được hành vi vi phạm.
Việc khách hàng sau đó thay đổi nhu cầu, không còn mong muốn sử dụng dịch vụ hoặc cho rằng quyền lợi nhận được không tương xứng với kỳ vọng cá nhân không đương nhiên làm phát sinh căn cứ tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Trong trường hợp không chứng minh được giao dịch thuộc một trong các trường hợp vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự, hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý và các bên phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết.

[EN]
[Consulted by: Lawyer Bui Thi Nhung]
The article below discusses legal issues relating to: What is a vacation ownership contract? Is a timeshare contract recognized by law? Does a contract become invalid if a business fails to fulfill its advertised commitments? The content is provided by Tuyet Nhung Bui Law Firm for reference purposes only.
In recent years, the timeshare model has become increasingly popular in Vietnam. Many businesses promote it as a solution that allows customers to enjoy periodic vacations at high-end resorts while purportedly saving costs compared to booking accommodations separately for each trip. However, in practice, numerous disputes have arisen between customers and service providers, particularly regarding the fulfillment of advertised commitments, the right to terminate contracts, and requests for refunds of amounts already paid.
1. What Is a Vacation Ownership Contract?
Although commonly referred to as a “vacation ownership contract” or “timeshare contract,” in reality, this is not a contract for the sale or transfer of real estate. Individuals participating in the program do not become owners of an apartment, villa, or hotel room within the resort after signing the contract. Instead, the business grants customers the right to use accommodation services for a specified period as agreed upon by the parties.
Therefore, in essence, this is a service contract as prescribed in Article 513 of the 2015 Civil Code:
“Article 513. Service Contracts
A service contract is an agreement between parties whereby the service provider performs work for the service user, and the service user is obligated to pay service fees to the service provider.”
Accordingly, the nature of the transaction is not a real estate sale but rather an advance payment for accommodation services to be provided in the future. This is a type of service contract in which the subject matter of the contract is the future provision of vacation and accommodation services.
2. Is a Timeshare Contract Recognized by Law?
Vietnamese law does not prohibit parties from entering into agreements concerning the provision and use of future vacation services. Therefore, a timeshare contract is still recognized and protected by law, provided that it is lawfully executed and satisfies all validity conditions applicable to civil transactions under the Civil Code.
Pursuant to Article 117 of the 2015 Civil Code:
Accordingly, a civil transaction is legally valid when the participating parties possess full legal capacity and legal act capacity; the transaction is entered into voluntarily; its purpose and contents do not violate legal prohibitions or social ethics; and any form requirements prescribed by law are satisfied.
With respect to a timeshare contract, if the customer voluntarily signs the contract, receives information regarding vacation rights, contract value, payment methods, and other relevant terms, and there is no evidence showing that the customer was deceived, threatened, or coerced, then the contract is generally considered to satisfy the legal validity requirements.
In such circumstances, the timeshare contract and its accompanying appendices become legally effective, are binding upon the parties, and create obligations requiring each party to perform the commitments that have been agreed upon.
In practice, many timeshare programs require customers to pay a deposit or reservation fee before entering into the formal contract. Such payments are commonly established to secure the conclusion or performance of a contract in accordance with Article 328 of the 2015 Civil Code.
Accordingly, after the contract is executed, the deposit is typically converted into part of the customer’s payment obligation under the contract. Therefore, a customer’s voluntary payment of a deposit followed by the execution of the contract is often regarded as evidence of the customer’s voluntary intention to participate in the transaction.
Thus, the fact that a timeshare contract concerns future vacation services does not mean that it lacks legal recognition. On the contrary, if it is entered into in accordance with the law, it remains a lawful civil transaction that creates binding rights and obligations for the parties, just like other types of civil contracts.
3. Does a Contract Become Invalid If the Business Fails to Fulfill Its Advertised Commitments?
In practice, after signing a timeshare contract, some customers believe that the benefits actually received differ from those presented during consultations or promotional activities. Others may simply no longer wish to continue using the services and therefore seek to terminate the contract and recover the amounts already paid. However, the fact that actual benefits do not meet expectations or that a customer’s personal needs have changed does not automatically constitute grounds for a court to declare the contract invalid.
Under the 2015 Civil Code, a civil transaction may only be declared invalid if it falls within one of the invalidity grounds prescribed by law, such as sham transactions, mistake, fraud, threat, coercion, lack of legal act capacity, or transactions whose contents violate legal prohibitions.
Therefore, a business’s failure to fully perform all advertised commitments does not automatically render the contract invalid.
Only when a customer can prove that he or she entered into the contract as a result of inaccurate information, concealment of material information, or fraudulent conduct by the business as provided in Article 127 of the 2015 Civil Code will there be grounds to consider a request for a declaration that the transaction is invalid.
In reality, however, proving fraudulent conduct is not always easy. Many promotional representations are made during sales presentations, product introductions, or verbal discussions and are not incorporated into the contract, contract appendices, or other official documents. In such cases, customers may face significant difficulties in proving that the business made specific commitments that induced them to enter into the contract.
Therefore, where a business fails to fulfill its advertised commitments, customers are not automatically entitled to request that the contract be declared invalid. Depending on the specific circumstances of each case, customers may request that the business perform its contractual obligations as promised, seek compensation for damages, or invoke other consumer protection measures available under applicable law, provided that they can establish the relevant violation.
A customer’s subsequent change of mind, lack of desire to continue using the services, or belief that the benefits received are not commensurate with personal expectations does not automatically create grounds for invalidating the contract. If the customer cannot prove that the transaction falls within one of the legally prescribed grounds for invalidity under the Civil Code, the contract remains legally binding, and the parties must continue to perform their respective obligations as agreed.
TUYẾT NHUNG LAW cung cấp đội ngũ luật sư tư vấn giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực pháp luật: Dân sự, hình sự, hành chính, thương mại, đất đai, hôn nhân gia đình, thuế … Liên hệ tư vấn các vấn pháp luật, vui lòng liên hệ theo số điện thoại 0975.982.169 hoặc qua email: lienhe@tuyetnhunglaw.vn để được hỗ trợ.
